Đặc điểm của lậu cầu
Vi
khuẩn lậu có hình hạt cà phê, xếp thành từng cặp nên còn gọi là song
cầu, có chiều dài khoảng 1,6cm, rộng 0,8cm, trên kính hiển vi, vi khuẩn
bắt màu Gram âm. Lậu cầu tồn tại rất ngắn ngoài cơ thể người (khoảng 5
phút), nhiệt độ lạnh và khô làm cho vi khuẩn lậu chết nhanh (tuy nhiên
người ta có thể nuôi cấy được lậu từ nhà vệ sinh bị nhiễm số lượng lớn
trong vòng 24 giờ, nên lậu cầu cũng có thể lây qua vật dụng dùng
chung). Ngược lại, lậu cầu sống rất mãnh liệt ở môi trường ẩm của cơ
thể, vì thế giao hợp vẫn là cách lây bệnh chủ yếu.
Con đường lây bệnh
Người
là ký chủ tự nhiên duy nhất của lậu cầu. Lây truyền chính là do tiếp
xúc trực tiếp qua đường sinh dục do giao hợp, lậu cầu có thể lây qua
vật dụng dùng chung trong môi trường ẩm như khăn tắm, đồ lót... lậu mắt
lây qua tiếp xúc với cơ quan sinh dục của người mẹ khi sinh.
Thời gian ủ bệnh: trung bình 3 - 7 ngày, nhiều nhất là 3 tuần.
Biến chứng
Sau
khi lậu cầu xâm nhập vào cơ thể thông qua niệu đạo, vi khuẩn có khuynh
hướng ưa thích tế bào mô bì trụ ở niệu mạc đường tiết niệu, đưa đến
phản ứng viêm tại chỗ, kéo theo bạch cầu đa nhiễm đến để thực bào, từ
đó trở thành tổ chức hoại tử trong quá trình viêm, được thoát ra ngoài
theo nước tiểu, màu trắng hơi vàng gọi là tiểu ra mủ, vi khuẩn tiếp tục
phát triển và đi dọc theo chiều dài của niệu đạo, đi đến đâu gây viêm
đến đó, gây viêm tiền liệt tuyến, viêm túi tinh, viêm tinh hoàn ở nam
giới, viêm ống dẫn trứng, buồng trứng ở nữ giới và là nguyên nhân gây
vô sinh.
Nếu mắc bệnh do quan hệ tình dục qua đường miệng, gây đau họng, nuốt đau và sưng đỏ vòm họng, amidan.
Nếu
vi khuẩn lan truyền vào mắt do tiếp xúc, mắt có thể bị viêm, đau, sưng
đỏ. Trẻ sơ sinh có thể bị lây từ đường sinh dục của mẹ bị nhiễm lậu cầu
trong quá trình sinh. Lậu mắt có thể gây mù.
Nhiễm trùng máu: Vi
khuẩn lậu có thể theo máu trong hệ tuần hoàn lan tràn và gây nhiễm ở
nhiều cơ quan khác trong cơ thể bạn. Sốt, nổi mẩn, đau cứng khớp là các
triệu chứng thường gặp. Có thể gây thương tổn van tim, suy tim.
Triệu chứng lâm sàng
Về
triệu chứng lâm sàng lậu ở nam và nữ có khác nhau, do niệu đạo của nam
giới dài gấp 5 lần, giai đoạn cấp tính lậu ở nam giới có tính chất rầm
rộ, còn ở nữ thì âm thầm, dễ bỏ qua, vì thế lậu là nguồn lây nhiễm rất
đáng quan tâm. Thời gian nung bệnh trung bình 3 – 5 ngày, nhưng có thể
kéo dài 2 – 3 tuần, thời gian nung bệnh càng ngắn thì bệnh càng nặng và
thời gian càng dài bệnh nhẹ hơn.
Lậu ở nam
Giai đoạn cấp tính
Sau
thời gian ủ bệnh, bệnh nhân thấy hơi ngứa, nhồn nhột ở đường tiểu, sau
vài giờ thì tiết ra chất dịch trong, sau đó đục dần rồi thành mủ, màu
vàng hơi trắng. Tiếp theo đó, hai mép miệng sáo đỏ, sưng nề, khi đi
tiểu bệnh nhân có cảm giác tiểu nóng rát, tiểu gắt, tiểu buốt, đau như
dao cắt, mủ chảy ngày càng nhiều, trường hợp nặng có thể tiểu ra máu.
Toàn thân giai đoạn này bệnh nhân có thể sốt nhẹ, mệt mỏi, đau mình mẩy.
Giai đoạn mạn tính
Ở giai đoạn cấp tính, nếu không được
điều trị
hoặc điều trị không hiệu quả, triệu chứng trên cũng giảm dần, nhưng vi
khuẩn vẫn còn và chuyển sang giai đoạn mạn tính, vi khuẩn từ niệu đạo
trước, xâm nhập sâu dần đến các tuyến và niệu dạo sau, để tiếp tục sinh
sôi và phát triển, các triệu chứng trên sẽ mất dần chỉ còn lại là tiểu
ra giọt đục buổi sáng, và tăng lên khi lao động nặng, thức khuya, uống
rượu bia…
Lậu ở nữ: Thời gian ủ bệnh thường rất khó xác định.
Giai đoạn cấp tính
Triệu
chứng thường âm thầm, không rõ như nam giới. Theo thống kê có khoảng
97% không có triệu chứng, chỉ có 3% còn lại mới có triệu chứng tiểu
rát, tiểu buốt, khó chịu.
Giai đoạn mạn tính
Không có triệu chứng gì đặc biệt, thường chỉ có huyết trắng, hoặc có những biểu hiện của biến chứng mà thôi.
Lậu ở trẻ sơ sinh
Trẻ
bị viêm kết mạc mắt do tiếp xúc với dịch ở âm đạo của mẹ bị nhiễm lậu
cầu lúc sinh, từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 21, mắt bé bị sưng phù, đỏ và
có mủ vàng. Tình trạng này có thể phòng, bằng cách nhỏ mắt bằng Nitrat
bạc lúc sinh. Ngoài ra, lậu ở đường sinh dục nam và nữ còn gây bệnh ở
các cơ quan khác như: lậu ở tim, khớp, cổ họng, amidan, hậu môn, trực
tràng…
Phương pháp điều trị
Khi
phát hiện có các dấu hiệu mắc bệnh, hoặc sau khi quan hệ tình dục không
lành mạnh với người có dấu hiệu mắc bệnh lậu, bạn cần kịp thời đi khám
để phát hiện bệnh và tuân thủ theo phác đồ điều trị của bác sĩ.
Nguyên tắc điều trị
- Lậu cầu cứ 15 phút phân chia một lần, do đó lan nhanh, vì vậy cần điều trị sớm.
- Điều trị đúng thuốc – đủ liều.
- Điều trị cả với người tiếp xúc sinh lý.
- Điều trị cho nữ bao giờ cũng dùng thuốc và thời gian gấp đôi liều nam giới.
-
Chỉ được kết luận là khỏi bệnh, khi cấy hai lần liên tiếp âm tính, hoặc
không còn tiết dịch niệu đạo với nghiệm pháp kích thích, (cho bệnh nhân
lao động nặng, thức khuya, uống rượu bia. Sáng hôm sau, lấy dịch xét
nghiệm lúc bệnh nhân chưa đi tiểu).
Các loại thuốc điều trị
Thông
thường, các bác sĩ sẽ dùng các loại kháng sinh để điều trị bệnh này.
Tuy nhiên, bởi vì càng ngày càng có nhiều chủng vi khuẩn kháng thuốc
nên nhất thiết bạn phải thực hiện đúng và đầy đủ tiến trình điều trị
hoàn chỉnh. Các thuốc giảm đau chỉ điều trị triệu chứng đau buốt, rát
khi đi tiểu mà không thể tiêu diệt trực tiếp vi khuẩn gây bệnh.
Theo dõi điều trị
Nếu
điều trị đúng thuốc, đủ liều thì triệu chứng tiểu gắt, tiểu buốt, tiểu
nhiều lần sẽ giảm nhanh sau 24 – 48 giờ, riêng tiểu ra mủ sẽ hết chậm
hơn sau 48 - 72 giờ. Các triệu chứng chung sẽ biến mất hoàn toàn sau 5
– 7 ngày.
Phòng ngừa
• Bạn nên dùng bao
cao su khi quan hệ tình dục, đặc biệt là với người bạn tình mới. Bệnh
lậu rất dễ lây nhiễm ngay cả ở những người không có triệu chứng.
•
Nếu bạn đã bị nhiễm lậu, hãy tránh quan hệ tình dục trước khi được điều
trị bằng kháng sinh và quá trình điều trị chấm dứt. Bạn vẫn có thể tiếp
tục bị nhiễm lậu trở lại, vì vi khuẩn lậu không gây được đáp ứng miễn
dịch vĩnh viễn.
• Cần thăm khám ở bác sĩ thường xuyên sau khi
được điều trị bằng kháng sinh để đảm bảo rằng vi khuẩn lậu đã bị tiêu
diệt hoàn toàn.
• Quan hệ tình dục lành mạnh, thuỷ chung một vợ một chồng là cách tốt nhất để vợ chồng bạn tránh được nguy cơ mắc lậu.
• Không mặc chung đồ lót, dung chung khăn tắm với người khác.
