Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

CÁC TỔN THƯƠNG CỔ TỬ CUNG

CÁC TỔN THƯƠNG CỔ TỬ CUNG
1. Cấu tạo giải phẫu, mô học và sinh lý cổ tử cung.
1.1 Cấu tạo giải phẫu cổ tử cung:
Cổ tử cung hình nón cụt, ống cổ tử cung được giới hạn bởi lỗ trong và lỗ ngoài.
Lỗ ngoài cổ tử cung được phủ bởi biểu mô lát tầng không sừng hoá, có bề dày khoảng 0,5mm.
Ống cổ tử cung được phủ bởi một lớp biểu mô trụ có tác dụng chế nhầy.
1.2. Cấu trúc mô học của niêm mạc âm đạo cổ tử cung
Bình thường niêm mạc âm đạo và mặt ngoài cổ tử cung là biểu mô lát tầng không sừng hoá, thay đổi phụ thuộc vào nồng độ estrogen theo từng lứa tuổi của người phụ nữ.
Ở người phụ nữ đang hoạt động sinh dục bình thường, niêm mạc âm đạo và cổ tử cung(lớp liên bào gai) gồm 5 lớp tế bào


- Lớp tế bào đáy (C1)
- Lớp tế bào đáy nông (C2)
- Lớp tế bào trung gian (C3)
- Lớp tế bào gần bề mặt hay zone de Dierks (C4)
- Lớp bề mặt (C5): gồm những tế bào to, dẹt, nhân đông. Lớp này thường thay đổi có chu kỳ dưới ảnh hưởng của các nội tiết buồng trứng.
Đặc điểm:
- Giới hạn từ lớp này sang lớp khác rất từ từ.
- Càng đi lên phía bề mặt, các lớp tế bào càng dẹt lại, nguyên sinh chất càng lớn và nhân tế bào càng nhỏ lại.
- Nhân tế bào các lớp dưới ưa kiềm, càng lên phía bề mặt càng ưa axit.
- Glycozen tăng dần từ lớp C2 đến lớp C5.

Trong thực hành thường được phân thành 3 lớp chính

- Lớp đáy(C1,C2)
- Lớp trung gian(C3)
- Lớp bề mặt(C4, C5)
1.3. Đặc điểm sinh lý cổ tử cung:
- Phía ngoài cổ tử cung được bao phủ bởi biểu mô lát tầng (biểu mô kép dẹp gai) giống biểu mô âm đạo nhưng không có nếp gấp.
- Ống cổ tử cung được phủ bởi biểu mô trụ với tế bào cao, tiết dịch nhầy và có nhiều rãnh gồ ghề.
- Vùng tiếp giáp giữa biểu mô lát tầng và biểu mô trụ gọi là vùng chuyển tiếp (transformation zone).
- Phía dưới vùng chuyển tiếp có những tế bào dự trữ, có khả năng tăng sinh và biệt hoá thành biểu mô lát tầng hoặc biệt hoá thành biểu mô trụ
- Ranh giới giữa biểu mô lát tầng và biểu mô trụ:
. Có thể vượt ra bề mặt cổ ngoài tạo nên hình ảnh lộ tuyến bẩm sinh.
. Thời kỳ thiếu niên ranh giới này tụt sâu vào ống cổ tử cung.
. Thời kỳ dậy thì ranh giới này lại từ từ tiến ra ngoài.
. Thời kỳ hoạt động sinh dục thì ranh giới giữa biểu mô lát tầng và biểu mô trụ ở vị trí bình thường (lỗ ngoài cổ tử cung)
. Thời kỳ mãn kinh ranh giới đó lại chui sâu vào ống cổ tử cung và niêm mạc ngoài teo đét lại
- Bình thường pH dịch cổ tử cung kiềm nhẹ pH = 7 - 7,5, dịch âm đạo có tính axit nhẹ và thay đổi từ 3,8 - 4,6 nhờ trực khuẩn Doderlein có trong âm đạo chuyển glycogen thành axit lactic
2. Các tổn thương cổ tử cung:
Các tổn thương cổ tử cung bao gồm các tổn thương sinh lý và bệnh lý ở cổ tử cung mà đặc biệt thường xảy ra ở ranh giới giữa biểu mô lát tầng và biểu mô trụ.
Nhiều tác giả chia các tổn thương ra làm 3 loại:
- Tổn thương lành tính cổ tử cung
- Tổn thương nghi ngờ
- Ung thư cổ tử cung
2.1. Các tổn thương lành tính cổ tử cung
2.1.1. Các tổn thương viêm:
- Triệu chứng LS: viêm âm đạo và cổ tử cung là ra khí hư, có thể kèm theo ngứa, đau khi giao hợp hoặc ra ít máu.
- Soi tươi hoặc cấy khí hư có thể tìm được nguyên nhân gây bệnh: nấm, trichomonas, gardrenella...
- Soi cổ tử cung sẽ phân biệt được các hình thái tổn thương khác nhau như: ổ viêm, chấm đỏ, đảo tuyến, hình ảnh đêm sao, lugol nham nhở hoặc đám xuất huyết dưới biểu mô ở người đã mãn kinh.
- Giải phẫu bệnh: Tổn thương viêm: trên tiêu bản thấy biểu mô phủ bị mất hoặc bị huỷ hoại để trơ lớp đệm với sự lắng đọng tơ huyết và bạch cầu đa nhân
- Điều trị theo nguyên nhân
2.1.2. Lộ tuyến cổ tử cung:
Là tình trạng biểu mô trụ cổ trong lan xuống hoặc lộ ra ở phần ngoài cổ tử cung, nơi bình thường chỉ có biểu mô lát tầng.
- Lộ tuyến bẩm sinh: không do sang chán và viêm
- Lộ tuyến mắc phải: do sang chấn, viêm nhiễm, nội tiết ostrogen tăng
* Triệu chứng LS: ra khí hư nhầy, đục , vàng.
Đặt mỏ vit: mất biểu mô lát tầng nhẵn bóng. Trên diện mất biểu mô lát thấy có nhiều nụ nhỏ, thẫm màu.
Soi cổ tử cung sau khi bôi axit axetic 3%, các tuyến như “ chùm nho”, lugol (-).
* Giải phẫu bệnh lý:
- Lộ tuyến cổ tử cung: trên tiêu bản thấy các tuyến hình ống, các tế bào trụ cao, chế nhầy, nhân và tế bào đều nhau đôi khi còn thấy các tế bào dự trữ.
- Lộ tuyến và dị sản: trên tiêu bản ngoài các tuyến còn thấy liên bào gai nằm sâu vào lớp đệm, liên bào mới sinh này còn non, đều nhau và ưa bazơ. Một vài nơi còn thấy một phần hợp bởi liên bào trụ, phần khác là liên bào gai.
- Polyp cổ tử cung: được lợp bởi tế bào trụ cao, chế nhầy dạng tế bào cổ trong bao quanh một khối là tổ chức liên kết hoặc chế nhầy.
* Phiến đồ AĐ- CTC: những biểu hiện lành tính
- Phân loại theo Papanicolaou (PAP) do Papanicolaou và Traut đề ra từ năm 1943 và chia tế bào ra thành 5 nhóm
- PAP I: tế bào hoàn toàn bình thường
- PAP II: tế bào bình thường, xen kẽ có 1 số tế bào nhân hơi to đều và nhiều bạch cầu.
- Phân loại theo hệ thống Bethesda:
+ Bình thường.
+ Các thay đổi biểu mô lành tính
Điều trị: - Chống viêm trước khi diệt tuyến
- Diệt tuyến bằng hoá chất, đốt nhiệt, điện đốt lạnh, đốt laser.
Cụ thể:
- Lộ tuyến + tái tạo gần hết : có nhiễm khuẩn, có thai hay uống thuốc tránh thai: điều trị chống viêm sẽ tự khỏi
- Lộ tuyến rộng, nhiều di chứng: đốt diệt tuyến
- Lộ tuyến không có tái tạo : đốt diệt tuyến
- Lộ tuyến có tái tạo không điển hình : dựa vào tế bào học và sinh thiết để điều trị
- Lộ tuyến tái phát, CTC rách nhiều: khoét chóp hoặc cắt cụt CTC
Cần điều trị tích cực , triệt để đề phòng các tổn thương nghi ngờ CTC
2.1.3. Tái tạo lành tính cổ tử cung
- Vùng tái tạo là vùng lộ tuyến cũ trong đó biểu mô lát tầng ở cổ ngoài lan vào lấn át và che phủ các tuyến gọi là sự tái tạo của biểu mô lát hay biểu mô hoá. phục hồi theo hai cơ chế khác nhau:
+ Sự tái tạo biểu mô lát bò vào phủ lên biểu mô trụ.
+ Sự tái tạo biểu mô do loạn sản từ những tế bào dự trữ của biểu mô trụ
- Quá trình tái tạo có thể xẩy ra nhanh chóng và thuận lợi nếu được chống viêm và đốt diệt tuyến, sau đó biểu mô lát lấn át hoàn toàn biểu mô trụ,
quá trình tái tạo hoàn thành, cổ tử cung trở lại bình thường, bắt màu lugol đều.
Quá trình tái tạo diễn ra trong 1 thời gian kéo dài với điều kiện không thuận lợi (viêm nhiễm, đốt còn sót nhiều tuyến, biến động nội tiết), biểu mô lát không lấn át được hoàn toàn biểu mô trụ
Những di chứng lành tính (sự tái tạo điển hình): cửa tuyến, đảo tuyến(một hoặc nhiều miệng tuyến bị biểu mô lát bao xung quanh , không phủ lên trên, tiếp tục chế tiết), nang Naboth (do các đám tuyến bị biểu mô lát phủ lên nhưng không bị diệt, tiếp tục chế tiết nhầy tạo các nang tuyến)
2.1.4. Các khối u lành tính cổ tử cung:
- Polype cổ tử cung: thường nhỏ, có cuống, phần lớn xuất phát từ ống cổ tử cung, đôi khi cũng xuất phát từ cổ ngoài, màu hồng đỏ, có thể là đơn độc hoặc nhiều polype nhỏ kết hợp thành polype chùm.
- Papilloma: là do tình trạng thoái hóa dị sản của biểu mô lát, gồm 1 đám sùi chính giữa có các mạch máu nhỏ, chạm vào dễ chảy máu.
Chẩn đoán dựa vào tế bào (koilocyte) và sinh thiết
Điều trị: đốt điện, laser
- U xơ CTC, hiếm gặp
2.2. Các tổn thương nghi ngờ.
- Tổn thương nghi ngờ : những hình ảnh tái tạo không bình thường của lộ tuyến cổ tử cung vì tiên lượng quá trình tiến triển của chúng chưa biết trước được (có thể khỏi, tồn tại vĩnh viễn hoặc thành ác tính)
- Nguồn gốc phát sinh các tổn thương nghi ngờ là xuất phát từ các tái tạo bất thường của lộ tuyến do dị sản (metaplasia) tế bào dự trữ ở ngay vùng chuyển tiếp giữa biểu mô lát và biểu mô trụ để thành biểu mô lát tầng. Nếu quá trình dị sản này gặp những điều kiện không thuận lơị như: sang chấn, viêm nhiễm, thay đổi pH âm đạo hoặc vai trò của nội tiết thì biểu mô lát được tái tạo có thể tiến triển thành tổn thương nghi ngờ
Tất cả các tổn thương nghi ngờ cổ tử cung đều có nguồn gốc từ tái tạo bất thường của lộ tuyến, để lại các di chứng không bình thường. Đó là những tổn thương không có triệu chứng điển hình trên lâm sàng ngoài triệu chứng ra khí hư, nhưng hình ảnh trên soi cổ tử cung lại hoàn toàn khác nhau
2.2.1. Các tổn thương nghi ngờ qua soi cổ tử cung.
· Các tổn thương sừng hoá là những tổn thương trong đó biểu mô lát bị thay đổi sừng hoá dày lên, có màu trắng ngà, không bắt màu lugol, bôi axit axetíc càng nổi rõ
. Vết trắng ẩn: không nhìn thấy khi nhìn bằng mắt thường, bôi axit axetic bờ rõ lên, lugol (-)
. Vết trắng thực sự: nhìn thấy bằng mắt thường, bôi axit axetic càng nổi rõ, L(-)
. Vết lát đá: là vết trắng trong đó nhìn rõ các thân mạch máu chạy ngang dọc
. Vết chấm đáy: vết trắng trong đó các mạch máu chạy sâu xuống lớp đệm
. Vết chấm đáy: vết trắng bao quanh miệng tuyến
. Giọt trắng: vết trắng phủ lên một nang tuyến bị bịt ở dưới
. Hình khảm (Mosaique) các tận cùng mao mạch bao xung quanh các khối (mảng) trắng ẩn hình đa giác hay tròn tạo nên hình giống như lợp ngói hình khảm. Hình khảm có thể được hình thành do sự hợp nhất của các mạch máu chấm đáy hay từ các mạch máu bao xung quanh lỗ tuyến cổ tử cung.
i Các tổn thương huỷ hoại:
Là những tổn thương trong đó biểu mô lát bị phá huỷ, bôi axit axetíc thường gây chảy máu, bôi Lugol không bắt màu.
Bao gồm
. Vùng trợt: mất một vài lớp bề mặt biểu mô
. Vùng loét: mất toàn bộ biểu mô trơ đến lớp đệm
. Nụ sùi: là tổ chức phát triển trên một diện loét , màu đỏ thãm, mỗi nụ sùi có một mạch máu, nụ sùi dễ nát, dễ nhiễm khuản, và hoại tử gây chảy máu
. Vùng đỏ không điển hình
. Các mạch máu bất thường: mạch máu quăn quoeo, xoắn ốc, hình mở nút chai, đầu đinh ghim .
i Các tổn thương phối hợp: thường nặng hơn
2.2.2.Các tổn thương nghi ngờ CTC về mặt tế bào học và tổ chức học
Là những bất thường về tế bào học, về cấu trúc của biểu mô lát, được sinh ra từ nơi tiếp giáp giữa biểu mô lát và biểu mô trụ
2.2.2.1. Về tế bào học.
Chẩn đoán tế bào học trong phụ khoa là xét nghiệm đã và đang được sử dụng rộng rãi trong vài chục năm gần đây. Nguyên lý của phương pháp chẩn đoán tế bào học trong phụ khoa là dựa vào tính chất các tế bào của niêm mạc âm đạo và cổ tử cung bong một cách liên tục, đặc biệt là khối u ác tính các tế bào bong càng sớm và bong dễ dàng.
Lấy bệnh phẩm làm phiến đồ AĐ - CTC đúng, đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán chính xác
Phân loại tế bào học
* Phân loại theo Papanicolaou (PAP) do Papanicolaou và Traut đề ra từ năm 1943 và chia tế bào ra thành 5 nhóm
- PAP III: có tế bào bất thường, tế bào thay đổi ở nhân, nhân to, bờ không đều nhưng chưa kết luận được là tế bào ác tính cũng như chưa loại trừ được đó là tế bào không bình thường.
* Phân loại của tổ chức y tế thế giới (WHO):
Hệ thống phân loại của tổ chức Y tế thế giới được Riotton và cộng sự viết vào năm 1973, theo hệ thống phân loại này mức độ ác tính của từng loại tế bào ung thư được xác định.
- Tế bào không điển hình
- Nghịch sản:
+ Nghịch sản nhẹ
+ Nghịch sản vừa
* Phân loại theo hệ thống Bethesda:
Các bất thường biểu mô:
- Lát tầng
+ Tổn thương nhẹ - Low Grade Squamous Intra-epitheial Lesion = LSIL
+ Tổn thương không điển hinh: ASCUS (Atypical squamous Cells of Undetermined Significance)
+ Lesion malpighiene intra- epithelial de haute grade (HSIL) – theo Bethesda (2001) HSIL còn bao gồm cả CIN II-

- Biểu mô tuyến: AGCUS(Atypical Glandular Cells of Undetermined Significance).
So sánh phân loại tổn thương biểu mô lát tầng khác nhau theo Bethesda 2001

OMS Richatr Bethesda
D ysplasie legốge Condylome
CIN I với koilocytose
LSIL
D ysplasie moyenne CIN II có hoặc không Koilocytose
HSIL
D ysplasie s ộvere CIN III có hoặc không Koilocytose
Carcinome in situ
* Tổn thương nghi ngờ TB học phân loại theo Richart: khối tân sản nội biểu mô cổ tử cung (Cervical Intraepithelial Neoplasia = CIN): CINI, CINII. Dựa vào thương tổn tế bào có ở bề dày biểu mô gai(-biểu mô vảy- b/m lát tầng), nếu chỉ ở 1/3 phía dưới (CIN I), chiếm 2/3 (CIN II)
Giá trị của tế bào học
- Đơn giản: thực hiện dễ dàng, nhanh chóng, có thể làm nhiều lần trên một bệnh nhân
- Nhạy: có khả năng chẩn đoán đúng so với giải phẫu bệnh đạt tỷ lệ 85 - 99,8% - Đặc hiệu: đáng tin cậy với tỷ lệ dương tính giả (không phải ung thư) với âm tính giả (là ung thư) là rất thấp, từ 0,2 - 15%.
- Có hiệu suất: áp dụng rộng rãi trong các chương trình phát hiện bệnh hàng cho các loại ung thư ở những vị trí khác nhau.
- Tiết kiệm: giá cả chi phí cho một xét nghiệm vừa phải, ít tốn kém quá mức.
Bằng xét nghiệm tế bào học cho phép đánh giá kết quả điều trị và theo dõi tiến triển của các tổn thương cổ tử cung qua khám bệnh theo định kỳ.
2.2.2.2. Tổn thương nghi ngờ cổ tử cung về giải phẩu bệnh
Nếu tế bào học có tổn thương nghi ngờ ® soi CTC tìm vùng tổn thương cần sinh thiết
Chẩn đoán GPB dựa vào mảnh sinh thiết làm tiêu bản mô học. Mảnh sinh thiết hoàn hảo là lấy đúng vùng thương tổn có cả một phần tổ chức lành và có cả liên bào lẫn lớp đệm, mảnh sinh thiết được cố định ngay vào dung dịch bouin hay formon 10%
Thuật ngữ trước đây thường dùng: nghịch sản (dysplasia) do Papanicolaou gợi ý và Reagan (1953) đã đưa thuật ngữ vào trong thuật ngữ giải phẫu bệnh lý.
Hình ảnh và mức độ của thương tổn nghịch sản
- Nghịch sản nhẹ: bề dày của liên bào có thể tăng hoặc không nhưng các tế bào ở 1/3 dưới có rối loạn về cấu trúc
- Nghịch sản trung bình: số tế bào bất thường chiếm 2/3 bề dày của liên bào
* Năm 1970 Richart đưa ra thuật ngữ mới CIN (Cervical Intra-epithelial Neoplasia) – khối tân sản nội liên bào và chia làm CIN I, CIN II, CIN III tương ứng với loạn sản nhẹ, loạn sản vừa và loạn sản nặng.
* Năm 1988 các nhà nghiên cứu ở Bethesda (USA) sắp xếp mọi tổn thương liên bào CTC thành 2 mức đô thấp và cao
Bảng so sánh cách xếp loại

Nghịch sản
CIN
SIL(quamous intraepithelial)
Nhẹ
CIN I
Mức độ thấp
Trung bình
CIN II
Nặng
CIN III
Mức độ cao
K tại chỗ
CIS

So sỏnh phõn loại tổn thương khác nhau của biểu mụ lỏt tầng (Bethesda 2001)

OMS Richatr Bethesda
D ysplasie legốge Condylome
CIN I với koilocytose
LSIL
D ysplasie moyenne CIN II có hoặc không Koilocytose
HSIL
D ysplasie sộvere CIN III có hoặc không Koilocytose
Carcinome in situ
. Giá trị của chẩn đoán giải phẩu bệnh lý:
Chẩn đoán giải phẫu bệnh lý không chỉ có giá trị là xác định lại chẩn đoán của tế bào học mà còn đánh giá kết qủa của soi cổ tử cung. Tỷ lệ chẩn đoán đúng của giải phẫu bệnh lý là 86% - 88%, tỷ lệ chẩn đoán sai là 6% - 8% . GPBL chẩn đoán được tính chất của tổn thương và quyết định thái độ điều trị cho từng loại tổn thương.
Tiến triển của các tổn thương nghi ngờ
- Khỏi: 71-42 % -Tồn tại: 59-35%
- Thành K gđ 0: 30-18% - K lan tràn: 8-5%
Xử trí tổn thương nghi ngờ
- Khám lâm sàng, phiến đồ AĐ-CTC nghi ngờ ® soi CTC
Sừng hoá ẩn : sinh thiết tim TB K , điều trị chống viêm , theo dõi 2 tháng/ lần trong 1 năm rồi có thái độ điều trị . Đốt ngay các sẹo loạn sản nếu sinh thiết bình thường
Sừng hoá huỷ hoại : sinh thiết, TB nhiều lần điều trị tích cực. Nên mổ nếu loạn sản nặng
Phòng bệnh: Điều trị tích cực lộ tuyên CTC
Theo dõi và xử trí sớm các tổn thương nghi ngờ CTC
2.2.3.Ung thư cổ tử cung
Lâm sàng: ra khí hư, ra máu sau giao hợp..
Soi CTC: Vùng loét, sùi, tổn thương loét sùi.
Dựa vào giải phẫu bệnh lý: tổ chức ung thư cổ tử cung đã phá vỡ màng đáy hay chưa mà người ta chia ung thư cổ tử cung thành 2 loại: Ung thư trong biểu mô và ung thư xâm nhập. Nguyên nhân sinh bệnh ung thư cổ tử cung hiện nay chưa rõ, có nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên nhiều tác giả đều nhận thấy một số yếu tố thuận lợi cho sự phát sinh của bệnh :
- Giao hợp sớm và giao hợp với nhiều người.
- Sang chấn cổ tử cung do sinh đẻ và nạo phá thai.
- Từ tổn thương lộ tuyến hoặc các tổn thương nghi ngờ cổ tử cung không được điều trị một cách thích hợp và đúng mức.
- Do rối loạn nội tiết gây dị sản cổ tử cung.
- HPV (Human papiloma virus) typ 16,18,31,33
Về mặt Tế bào học
* Phân loại theo papanicolaou
- PAP IV: có một số tế bào không điển hình, tế bào thay đổi về nhân và nguyên sinh chất, nhân quái, nhân chia. Tỷ lệ nhân / nguyên sinh chất tăng.
- PAP V: nhiều tế bào ác tính, chắc chắn là ung thư.
* Phân lọai theo tổ chức Y Tế Thế Giới
- Nghịch sản nặng
- Ung thư tại chỗ
- Ung thư biểu mô lát xâm lấn và ung thư biểu mô tuyến.
* Theo hệ Bethesda
- Tổn thương nặng - High Grade Squamous Intra-epithelial Lesion = HGSIL
- Ung thư tuyến (adenocarcinoma)
* Phân loại theo Richart: khối tân sản nội biểu mô cổ tử cung (Cervical Intraepithelial Neoplasia = CIN). tổn thương tế bào chiếm toàn bộ bề dày biểu mô lát tầng: CIN III hay ung thư tại chỗ (Carcinoma Insitu = CIS)
2.3. Các phương pháp điều trị tổn thương cổ tử cung:
. Phương pháp đặt thuốc âm đạo:
Điều trị đặc hiệu tuỳ thuộc từng nguyên nhân gây bệnh dựa trên chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm
Điều trị viêm âm đạo và cổ tử cung bằng các thuốc đặc hiệu theo từng nguyên nhân là phương pháp đơn giản và đem lại kết quả cao đối với lộ tuyến viêm có đường kính tổn thương nhỏ và nông
. Phương pháp đốt bằng hoá chất :
Là phương pháp dùng các hoá chất làm chết các tổ chức. Hoá chất được chấm lên các tổn thương để đốt diệt tuyến. Hoá chất được dùng gồm: Nitrat bạc 10 - 20% hoặc Clorua kẽm 40%.
. Phương pháp đốt nhiệt :
Phương pháp dùng nhiệt độ cao (70-100oC) làm cho Protein của tế bào đông vón và biến chất, . Đốt nhiệt cổ tử cung là phương pháp điều trị đơn giản, dễ áp dụng, dụng cụ đơn giản, rẻ tiền, ít gây biến chứng trong điều trị.
. Phương pháp điều trị bằng Lazer .
Laser đã được áp dụng rộng rãi trong điều trị các tổn thương lành tính, tổn thương nghi ngờ, tiền ung thư, Laser dùng để khoét chóp, cắt cụt cổ tử cung.
Laser CO2 phát tia hồng ngoại không nhìn thầy, dùng đốt cắt, rạch, cầm máu.
Sử dụng Laser để điều trị các tổn thương lành tính, tổn thương nghi ngờ và ung thư trong biểu mô hay ung thư vi xâm lấn đã đem lại kết quả đáng kể và ít xẩy ra biến chứng. Tuy nhiên máy còn đắt nên chưa trang bị rộng rãi đến các cơ sở y tế.
Phương pháp khoét chóp hoặc cắt cụt cổ tử cung:
Ngày nay phương pháp khoét chóp hoặc cắt cụt cổ tử cung được xem là một phương pháp có giá trị trong điều trị các tổn thương nghi ngờ, ung thư biểu mô hoặc các tổn thương cổ tử cung sau đốt điện hoặc áp lạnh không kết quả. Đồng thời khoét chóp hoặc cắt cụt cổ tử cung còn cho phép chẩn đoán xác định các tổn thương bằng giải phẫu bệnh lý.
Dụng cụ: - Dao thường: Lưỡi nhỏ, đều, cong.
- Khoét chóp bằng Laser : Dùng Laser CO2 công suất 30 - 50w mode liên tục
- Khoét chóp bằng vòng dao điện hai cực (anse diathermique). Vòng cung này thay đổi từ 5mm - 55mm thích hợp với các loại cổ tử cung và tổn thương.
Điều kiện thực hiện khoét chóp:
- Khoét chóp khi không có biểu hiện nhiễm trùng cổ tử cung.
- Thực hiện sau khi sạch kinh.
Khoét chóp cổ tử cung được chỉ định trong các trường hợp tân sản nội liên bào cổ tử cung nguy cơ cao, ung thư vi xâm nhập, tân sản nội liên bào cổ tử cung nguy cơ thấp nhưng không có sự tương xứng giữa kết quả tế bào, soi cổ tử cung và giải phẫu bệnh hoặc vùng ranh giới giữa biểu mô lát trụ không nhìn thấy hoàn toàn. Ngoài ra với những bệnh nhân mãn kinh có nghi là tổn thương ác tính khi vùng ranh giới biểu mô lát trụ không nhìn thấy được. Khoét chóp cổ tử cung không có chỉ định khi có ung thư xâm lấn, nhiễm trùng hoặc có thai.
Phương pháp áp lạnh:
Áp lạnh là một phương pháp sử dụng các máy gây lạnh cũng như các chất làm lạnh khác nhau với nhiệt độ thấp từ 0oC đến 196oC được tạo ra do sự bay hơi của chúng để phá huỷ tế báo bệnh lý và tổ chức bệnh lý. Phương pháp áp lạnh với các chất làm lạnh khác nhau như khí CO2 , Oxit Nitơ và Nitơ lỏng đã đạt được những kết quả khả quan trong điều trị các tổn thương lành tính cổ tử cung, các tổn thương nghi ngờ.
kết quả điều trị bằng phương pháp áp lạnh tuỳ thuộc vào : đường kính và tính chất của tổn thương, chất gây đông lạnh được dùng, áp lực bình chứa chất gây lạnh, vật liệu dùng làm đầu áp, thời gian làm lạnh đông - tan đông
Phương pháp đốt điện:
Đốt điện cổ tử cung là dùng các máy đốt điện nhiệt hoặc máy đốt điện với dòng điện có tần số cao phá huỷ các tổn thương bệnh lý ở cổ tử cung.
cơ chế phá huỷ của tổ chức đốt điện dưới ảnh hưởng của những sóng điện từ do dòng điện cao tần khi đi qua các tế bào sẽ làm nhiệt độ ở tổ chức tăng lên trên 60oC, làm cho Protein đóng vón và biến chất, dần dần bị hoại từ và đào thải.

“Căn bệnh này quả là một thách thức!”

“Căn bệnh này quả là một thách thức!”
(Dân trí) - “Căn bệnh này quả là một thách thức bởi chưa xác định được nguyên nhân gây bệnh. Nó không chỉ đơn thuần là bệnh viêm da. Nếu chỉ viêm trên da thì vì sao bệnh nhân lại tử vong vì suy đa tạng?”, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết.
 >> Bệnh “da lạ” ở Quảng Ngãi: Người bệnh hoang mang, bác sĩ căng thẳng
 >> Quảng Ngãi: UBND tỉnh họp khẩn cấp bệnh "da lạ"
Tại cuộc họp Tại cuộc họp “nóng” chiều muộn hôm qua (20/4) tại Bộ Y tế về “bệnh lạ” ở Quãng Ngãi, Hội đồng khoa học của Bộ đã thống nhất phác đồ điều trị bệnh lần thứ 2 sửa đổi, hướng dẫn chi tiết hơn trong việc điều trị, phân cấp cụ thể mức độ bệnh để phân tuyến điều trị cũng như thống nhất gọi là “hội chứng viêm dày sừng da bàn tay, bàn chân” thay tên gọi cũ là “bệnh viêm lòng bàn tay, bàn chân và có rối loạn chức năng gan”.

Tuy nhiên, có 1 thực tế, cho đến nay, căn nguyên của bệnh vẫn chưa rõ ràng.

Theo tính chất dịch tễ thì không có bằng chứng của sự lây từ người này qua người khác. Có thể là nhiễm bệnh qua tiếp xúc phần da hở vì trong người không bị mà chỉ mắc bệnh tại bàn tay và bàn chân.

Còn về kết quả chuyến khảo sát tuần qua, PGS.TS Trần Hậu Khang, Giám đốc BV Da Liễu TƯ cho biết vẫn đang tìm xem trong mẫu máu, mẫu tóc, mẫu móng tay, móng chân, mẫu thực phẩm có độc chất gì không.

“Mục tiêu của ngành y tế trong thời gian tới là xác định nguyên nhân gây bệnh, các yếu tố liên quan đến hội chứng, xây dựng các biện pháp dự phòng và điều trị hiệu quả”, Thứ trưởng Long nhấn mạnh, đồng thời Thứ trưởng cũng yêu cầu, nhóm nghiên cứu phối hợp thêm các đơn vị khác như: môi trường y tế, an toàn thực phẩm, quân đội… để tìm nguyên nhân gây bệnh. Đặc biệt cần phối hợp với các chuyên gia quốc tế của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ, Tổ chức Y tế Thế giới và các tổ chức quốc tế liên quan khác.

Bệnh lậu lây truyền như thế nào?

Bệnh lậu lây truyền như thế nào?

Bệnh lậu đăng bởi: vào Jul 28, 2011 | Đăng phản hồi
Bệnh lậu lây truyền như thế nào?
Bệnh lậuxsp1258787308 233x300 Bệnh lậu lây truyền như thế nào?
Bệnh lậu có nguyên nhân là do vi khuẩn gây ra. Vi khuẩn gây bệnh lậu không thể sống bên ngoài cơ thể quá vài phút, cũng như không thể sống trên bề mặt da của bàn tay, cánh tay, hay chân. Vì thế bệnh lậu không lây qua những hình thức giao tiếp thông thường như bắt tay, ôm hôn … Vi khuẩn lậu thường được tìm thấy ở âm đạo và đặc biệt hơn nữa là ở cổ tử cung.
Lây qua đường tình dục chủ yếu do tiếp xúc sinh dục – sinh dục, hậu môn – sinh dục, miệng – sinh dục. Lây gián tiếp thì hiếm gặp (như qua dụng cụ khám bệnh có dây mủ lậu chưa được tiệt trùng kỹ)
Lây từ mẹ sang con (mẹ bị lậu không được phát hiện điều trị, trong cuộc đẻ con chui qua đường sinh dục bị dây mủ lậu bị lậu mắt)
+ Cơ chế bệnh sinh: sau khi quan hệ với bạn tình có bệnh, vi khuẩn lậu bám dính vào màng tế bào biểu mô trụ của đường tiết niệu sinh dục người lành, nên việc nhiễm bệnh xảy ra rất nhanh ngay sau khi quan hệ tình dục.
+ Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn lậu: cho đến nay các kháng sinh sau đây còn có tác dụng (xếp theo giảm dần).

Triệu chứng bệnh lậu

Triệu chứng bệnh lậu
Bệnh lậu Triệu chứng bệnh lậu
Bệnh lậu không phải lúc nào cũng dễ nhận biết và hậu quả của nó mang lại thật khó lường…
Biểu hiện của bệnh
Bệnh lậu thường có hai giai đoạn: lậu cấp tính và lậu mãn tính. Lậu cấp tính xảy ra ở cả nam giới và nữ giới nhưng có khác nhau. Ở nam giới, sau thời gian ủ bệnh khoảng từ 2 đến 6 ngày sẽ có triệu chứng như: đau dọc theo niệu đạo, rát, nóng, buốt khi đi tiểu. Mủ tự chảy ra hoặc đái ra lẫn với nước tiểu (nước tiểu đục). Mủ đặc có màu vàng. Nếu không điều trị dứt điểm sẽ chuyển thành lậu mãn tính. Còn ở nữ giới, thời gian ủ bệnh rất khó xác định vì các triệu chứng lậu ở phụ nữ rất kín đáo, nhất là bệnh biểu hiện ở âm đạo, cổ tử cung. Có thể thấy có đái dắt, đau vùng xương mu sau khi giao hợp. Khám thấy viêm niệu đạo, cổ tử cung, viêm âm hộ, âm đạo (viêm tấy đỏ, có mủ).
Còn bệnh lậu mãn tính, biểu hiện ở nam giới gồm, đái dắt, đái buốt, ít khi thấy đái mủ, có thể thấy chất nhầy như nhựa chuối chảy ra ở niệu đạo vào sáng sớm, lúc ngủ dậy, khi đi tiểu. Bệnh lậu ở nam giới cũng cần được chẩn đoán phân biệt với bệnh có các triệu chứng giống lậu nhưng không do lậu gây ra bởi các vi khuẩn Chalmydia và Mycoplasma. Còn ở phụ nữ đa số bệnh lậu chuyển sang giai đoạn mãn tính ngay từ đầu, có rất ít triệu chứng ngoài dấu hiệu ra khí hư màu vàng. Bệnh có khi lây lan gây viêm cả hậu môn (do mủ kèm theo vi khuẩn lậu chảy vào hậu môn).
Đường lây lan và cách phòng ngừa
Bệnh lậu chủ yếu lây qua đường tình dục. Ngoài ra, cũng có thể thấy bệnh lây qua việc dùng chung khăn tắm, quần áo lót có dây mủ niệu đạo, âm đạo của người bị lậu.
Bên cạnh bệnh lậu gặp ở đường sinh dục – tiết niệu, còn có thể gặp bệnh lậu do viêm kết mạc mắt ở trẻ sơ sinh do người mẹ bị bệnh lậu.
Những biến chứng của bệnh lậu gây ra đối với nam giới là, gây chít hẹp niệu đạo (biến chứng thường hay gặp nhất) – sẽ gây đái khó, bí đái. Nhiều trường hợp chít hẹp niệu đạo phải thông đái nhiều lần dễ dẫn đến viêm đường tiết niệu ngược dòng rất phức tạp cho điều trị. Đối với nữ thì gây viêm âm hộ và các tuyến ở vùng âm hộ, âm đạo tạo thành các túi mủ, rất dễ gây vô sinh do viêm cổ tử cung, tử cung, vòi trứng, buồng trứng và tiểu khung mà để khắc phục điều đó (chữa vô sinh) thật không đơn giản chút nào.
Phòng bệnh lậu như thế nào? Cần tuyên truyền giáo dục để người dân biết tác hại của bệnh lậu đặc biệt là gái mại dâm, người đồng tính luyến ái; không quan hệ tình dục bừa bãi, nên thủy chung một vợ một chồng; không dùng chung quần áo, khăn tắm với người mắc bệnh lậu; những người bị bệnh lậu cần được khám và điều trị dứt điểm. Cần điều trị ngay từ đầu cho cả cặp vợ chồng hoặc cho từng cặp tình nhân khi một trong hai người mắc bệnh lậu.

Triệu chứng bệnh lậu ở nam giới

Triệu chứng bệnh lậu ở nam giới

Triệu chứng bệnh lậu ở nam giới
Bệnh lậuDau dau sung 1 300x200 Triệu chứng bệnh lậu ở nam giới
+ Ủ bệnh: là 3 – 5 ngày sau khi quan hệ tình dục với người bị bệnh lậu (ở 90% trường hợp).
+ Lâm sàng: Sau khi phơi nhiễm với nguồn bệnh khoảng 2-10 ngày, khoảng 25% nam giới sẽ phát triển thành bệnh lậu. Trong đó, 85-90% sẽ có triệu chứng viêm niệu đạo (Urethritis) điển hình (đái buốt, đái khó và chảy nhiều mủ). 10-15% bệnh nhân viêm niệu đạo không điển hình hoặc không có triệu chứng gì; những bệnh nhân này thường không được điều trị dẫn tới tỷ lệ mắc bệnh lậu không điển hình hoặc không triệu chứng ở cộng đồng tăng tới 40% và đây là nguồn lan truyên bệnh trong cộng đồng.
- Viêm niệu đạo trước cấp tính: gặp trên 90% các trường hợp. Triệu chứng lâm sàng sớm nhất là có cảm giác ngứa nhiều hoặc ít ở miệng sáo, hố thuyền, các mép của miệng sáo trở nên tấy đỏ. Lậu cầu phát triển ở niêm mạc niệu đạo trước gây viêm xuất tiết. Chất nhầy chảy ra kèm theo cảm giác đái nóng, buốt nhẹ. Sau đó chảy mủ màu trắng đục hoặc vàng đục. Cảm giác nóng buốt tăng lên rõ, có khi đái rất buốt làm bệnh nhân phải đái từng giọt, thử nghiệm nước tiểu 2 cốc thì chỉ có cốc nước tiểu thứ nhất đục.
- Viêm niệu đạo toàn bộ: khi bệnh không được điều trị kịp thời và đầy đủ, sau 10- 15 ngày, bệnh nhân bị đái dắt, đái khó, có thể đái ra vài giọt máu cuối bãi, mủ chảy ra nhiều, hạch bẹn có thể sưng đau, hay bị cường dương và đau rát khi dương vật cương lên. Thử nghiệm nước tiểu 2 cốc thì cả 2 cốc đều đục.
-Sau 1 tháng nếu không điều trị sẽ trở thành lậu mạn tính khi đó các triệu chứng đái buốt đái dắt giảm,. chỉ có giọt nhầy mủ lúc sáng sớm chưa đi tiểu gọi là dấu hiệu giọt ban mai.
- Mặc dầu đã được điều trị đúng một số trường hợp bệnh vẫn có thể chuyển thành bán cấp với các tổn thương sau:
. Viêm các tuyến khu trú cạnh giây hãm ở rãnh qui đầu.
. Viêm các ống và các tuyến khu trú cạnh miệng sáo.
. Viêm các tuyến Littre.
. Viêm tuyến Cowper.
+ Biến chứng xa hơn:
- Viêm ống dẫn tinh và mào tinh hoàn(Epididymitis).
- Viêm túi tinh(Seminal vesiculitis) và ống phóng tinh.
- Viêm dưới niêm mạc niệu đạo gây nhiều túi mủ xung quanh niệu đạo, ít khi vỡ ra ngoài. -viêm tuyến tiền liệt (Prostatitis)-Viêm bàng quang (cystitis).-Viêm trực tràng (Proctitis, biểu hiện dâu, ngứa hoặc cảm giác buốt mót, có mủ)-viêm hầu họng (Pharyngitis)-viêm kết mạc (Conjunctivitis, do tiếp xúc với tay hoặc các vật dụng có vi khuẩn).
-Hẹp niệu đạo (Urethral stricture): hiện nay, trong kỷ nguyên của kháng sinh thì biến chứng này ít gặp. Gặp sau khi bị viêm tuyến tiền liệt và viêm bàng quang. Biểu hiện là sự giảm sút và bất thường của dòng nước tiểu.

Phòng siêu âm màu 4 Chiều Uy tin - chất lượng - Bác sỹ chuyên khoa đầu ngành tại Cầu Giấy

Phòng siêu âm màu 4 Chiều Uy tin - chất lượng - Bác sỹ chuyên khoa đầu ngành tại Cầu Giấy

PHÒNG KHÁM SIÊU ÂM MÀU 4D THUỘC PHÒNG KHÁM ĐA KHOA HỮU NGHỊ VIỆT PHÁP


PHÒNG KHÁM SIÊU ÂM MÀU 4D THUỘC PHÒNG KHÁM ĐA KHOA HỮU NGHỊ VIỆT PHÁP
Uy tín – Chính xác – An toàn – Tận tâm
Địa chỉ:  112 PHỐ MAI DỊCH – CẦU GIẤY – Hà Nội

Điện thoại: 0466741651 – 0988410350(Đại tá bs.thầy thuốc ưu tú Bùi Quan Thắng )
Email: vietphapclinic@yahoo.com
Giờ làm việc:
      : Từ 7h30 h – 20h 30’ làm cả thứ 7, chủ nhật và ngày lễ.
Việc siêu âm thai nhi là điều vô cùng quan trọng, ngoài việc cung cấp các thông tin y tế cần thiết như: Dự kiến ngày sinh em bé, xác định đa thai, dị tật bẩm sinh, kiểm tra tăng trưởng và phát triển của bé... thì nó còn giúp cha mẹ bước đầu giao tiếp với con mình và có những hình ảnh đầu tiên về con. Vậy! để tất cả các cuộc vượt cạn đều được mẹ tròn con vuông, các sản phụ cần khám thai và siêu âm đúng theo  chỉ dẫn của bác sỹ.


Phòng khám được bố trí theo một quy trình khép kín, thuận tiện, sạch sẽ và thoáng mát.  Bên ngoài phòng chờ cũng được trang bị một màn hình rộng kết nối với máy siêu âm màu để người nhà có thể theo dõi quá trình khám thai của các sản phụ ở bên trong. Các bạn có thể nhìn rõ nét nhất các tư thế và những cử động của bé nhờ hệ thống máy siêu âm màu 4 chiều Aloka Prosound Alpha 6 hiện đại nhất của Nhật hiện nay. Ngoài ra, phòng khám còn sử dụng phầm mềm chuyển ảnh qua mạng “ DICOM”, nhờ có phần mềm  này mà hình ảnh con bạn được rõ nét nhất, trung thực nhất. Và cũng nhờ nó chúng tôi có thể chuyển những hình ảnh đẹp nhất của con bạn qua email hoặc bạn lưu giữ những hình ảnh đó vào USB hoặc thẻ nhớ…




Phòng khám siêu âm màu 4D tại 112, Phố Mai dịch – Cầu giấy – Hà Nội, tự hào là phòng khám đi đầu trong lĩnh vực:
+  Phát hiện sớm dị tật thai nhi cùng với bệnh lý sản phụ khoa.
+ Phát hiện sớm các khối u cùng với các bệnh lý thuộc các cơ quan trong ổ bụng (gan, thận…)
+ Phát hiện sớm các bệnh lý tim và mạch máu.
+ Phát hiện sớm các khối u vùng cổ, ngực và một số cơ quan khác.

Một số phản hồi của khách hàng sau khi đến với phòng khám siêu âm màu 4D -
1. Mình là Phương Thị Nhàn (38 tuổi) ở Đống Đa – Hà Nội:
Ngày 21/02/2011 mình đến PK siêu âm thuộc Phòng khám Đa khoa Hữu Nghị Việt Pháp tại 112, Phố Mai dịch, Cầu Giấy  siêu âm màu 4 chiều thai nhi. Sau khi siêu âm BS. Bùi Quang Thắng kết luận con mình được 23 tuần 2 ngày và bị “nang ống mật chủ bẩm sinh”. BS. Thắng bảo đây là một loại dị tật bẩm sinh lành tính về đường mật, khi sinh ra sẽ phẫu thuật nội soi bóc nang và không ảnh hưởng đến sự phát triển của bé. Sau khi siêu âm chỗ BS. Thắng mình đi khám lại tại bệnh viện C, tại đây các bác sĩ cho mình đi chụp cộng hưởng từ thai nhi và cũng cho kết quả giống với kết quả của BS. Thắng  là con mình bị Nang ống mật chủ bảm sinh”. Sau đó 1  thời gian mình sinh bé và khi bé được 4 tháng tuổi mình đưa bé đến bệnh viện nhi TW làm phẫu thuật bóc nang. Đến nay cháu được 6 tháng tuổi, cháu phát triển khỏe mạnh bình thường. Qua đây mình xin gửi lời cảm ơn đến BS. Thắng vì đã phát hiện sớm cho con mình, nhờ đó cháu được điều trị kịp thời…


2. Mình là Trịnh Hồng Nhung (24 tuổi) ở Trần Khát Chân – Hai Bà Trưng – Hà Nội:
 Ngày 5/3/2011 mình đến PK siêu âm của BS. Thắng  siêu âm màu 4 chiều thai nhi. Sau khi siêu âm bác sĩ Thắng kết luận con mình được 16 tuần nhưng bị dị tật về tim thai, cháu bị “Thông liên thất” kèm theo tăng chiều dày da gáy. BS. Thắng khuyên mình đi chọc ối làm nhiễm sắc thể đồ. Thai 18 tuần mình sang viện C chọc ối và 3 tuần sau cho kết quả là con mình bị hội chứng Down. Các bác sĩ khuyên mình đi bỏ thai, trước khi bỏ mình đi siêu âm lại và kết quả cũng trùng với kết luận của BS.Thắng.
Qua đây mình xin gửi lời cảm ơn đến BS. Thắng vì đã phát hiện sớm dị tật cho con mình để mình có phương án giải quyết nếu không bây giờ…

Một địa chỉ chữa Bệnh Lậu và các bệnh viêm nhiễm qua đường sinh dục uy tín tại Hà Nội

Phòng khám Đa khoa Hữu Nghị Việt - Pháp 112,Phố Mai dịch, Cầu Giấy Hà Nội Một địa chỉ khám điều trị bệnh lậu và các Bệnh Viêm nhiễm đường sinh dục uy tín tại Hà Nội. Điện thoại tư vấn : 0466741651

Không nên chủ quan với bệnh lậu
Lậu là một bệnh gặp chủ yếu ở đường sinh dục - tiết niệu, ngoài ra còn gặp lậu ở kết mạc mắt, khớp và hiếm gặp hơn là nhiễm trùng huyết. Bệnh lậu do vi khuẩn lậu (Neisseria gonorrheae) gây ra. Bệnh lậu cho đến nay là một bệnh chiếm tỷ lệ khá cao.
Đây là một bệnh lây truyền chủ yếu theo đường tình dục. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng chiếm tỷ lệ cao nhất là tuổi đang hoạt động tình dục.
Biểu hiện
Bệnh lậu thường có hai giai đoạn: Lậu cấp tính và lậu mạn tính.
- Lậu cấp tính: Bệnh lậu cấp tính thể hiện ở nam giới và nữ giới có khác nhau.
Ở nam giới: Sau thời gian ủ bệnh trung bình từ 2 đến 6 ngày đa số các trường hợp có triệu chứng của viêm niệu đạo cấp tính: đau dọc theo niệu đạo, rát, nóng, buốt khi đi tiểu. Mủ tự chảy ra hoặc tiểu ra lẫn với nước tiểu (nước tiểu đục). Mủ đặc có màu vàng.
Ở nữ giới: Thời gian ủ bệnh rất khó xác định vì các triệu chứng lậu ở nữ giới rất kín đáo nhất là bệnh biểu hiện ở âm đạo, cổ tử cung.Vì vậy ít có triệu chứng gì biểu hiện sự cấp tính của bệnh lậu ở nữ giới. Có thể thấy có tiểu dắt, đau vùng xương mu sau khi giao hợp. Khám thấy viêm niệu đạo, cổ tử cung, viêm âm hộ, âm đạo (viêm tấy đỏ, có mủ).
- Lậu mạn tính:
Ở nam giới biểu hiện tiểu dắt, tiểu buốt, ít khi thấy tiểu mủ. Đa số các trường hợp thấy có chất nhầy như nhựa chuối chảy ra ở niệu đạo vào sáng sớm, lúc ngủ dậy, khi đi tiểu. Nam giới bị lậu nếu không phát hiện sớm và điều trị đúng phác đồ thì dễ chuyển thành mạn tính và khi đã trở thành lậu mạn tính thì rất khó điều trị. Bệnh lậu ở nam giới cũng cần được chẩn đoán phân biệt với các bệnh có triệu chứng giống lậu nhưng gây ra bởi các vi khuẩn khác như chalmydia và mycoplasma.
Ở nữ giới đa số bệnh chuyển sang giai đoạn mạn tính ngay từ đầu, có rất ít triệu chứng ngoài dấu hiệu ra khí hư màu vàng. Bệnh có khi gây viêm cả hậu môn (do mủ kèm theo vi khuẩn lậu chảy vào hậu môn). Điểm quan trọng của lậu mạn tính ở phụ nữ là làm lây bệnh trong cả quá trình dài nhiều tháng, nhiều năm trong thời kỳ hoạt động tình dục đặc biệt là gái mại dâm.
Để chẩn đoán xác định lậu mạn tính ở nữ giới (kể cả ở nam giới) cần làm xét nghiệm tìm vi khuẩn nhiều lần, nhiều loại bệnh phẩm khác nhau và nhiều phương pháp khác nhau. Bệnh lậu mạn tính ở nữ cũng cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh cũng gây viêm âm hộ, âm đạo do vi khuẩn chlamydia trachomatis, mycoplasma, trùng roi, nấm candida albicans, tạp khuẩn để điều trị có hiệu quả.
Lây lan
Bệnh lậu chủ yếu lây qua đường tình dục. Ngoài ra có thể thấy lây qua việc dùng chung khăn tắm, quần áo lót có dính mủ niệu đạo, âm đạo của người bị lậu nhưng tỷ lệ mắc bệnh theo hình thức lây lan này rất thấp.
Bên cạnh bệnh lậu gặp ở đường sinh dục-tiết niệu còn có thể gặp bệnh lậu do viêm kết mạc mắt ở trẻ sơ sinh. Trường hợp này là do người mẹ mắc bệnh lậu, khi đứa trẻ sinh đi qua cổ tử cung, âm đạo mà bị lây bệnh. Biểu hiện là trẻ lọt lòng mắt nhắm nghiền, kết mạc sưng to, chảy mủ vàng. Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời đứa trẻ có thể bị mù.
Một số trường hợp bị lậu mà không phát hiện và điều trị sớm có thể gây nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn lậu, viêm khớp do lậu, tuy nhiên các tỷ lệ này thấp.
Biến chứng
Hậu quả của bệnh lậu có rất nhiều vấn đề cần lưu tâm:
- Đối với nam giới gây chít hẹp niệu đạo là biến chứng thường hay gặp nhất và cũng là vấn đề làm cho bệnh nhân mắc lậu mạn tính buồn phiền nhất do gây tiểu khó, bí tiểu rất khó chịu và đến lúc không thể chịu được. Nhiều trường hợp chít hẹp niệu đạo phải thông tiểu nhiều lần đưa đến viêm đường tiết niệu ngược dòng rất phức tạp cho điều trị.
- Đối với nữ giới: Gây viêm âm hộ và các tuyến ở vùng âm hộ, âm đạo tạo thành các túi mủ. Đang tuổi sinh đẻ nếu có thai thì rất dễ lây cho con sau khi sinh đặc biệt là gây viêm kết mạc mắt có thể dẫn đến mù lòa. Cũng cần lưu ý rằng mắc lậu mạn tính rất dễ gây vô sinh do lây nhiễm gây viêm cổ tử cung, tử cung, vòi trứng, buồng trứng và tiểu khung mà để khắc phục điều đó (chữa vô sinh) thật không đơn giản chút nào.Ngoài ra có thể gây viêm bàng quang biểu hiện tiểu dắt, buốt.
Phòng ngừa
- Tuyên truyền giáo dục để người dân biết tác hại của bệnh lậu đặc biệt là gái mại dâm, người đồng tính luyến ái.
- Không quan hệ tình dục bừa bãi, thủy chung một vợ một chồng.
- Không dùng chung quần áo, khăn tắm với người mắc bệnh lậu.
- Những người bị bệnh lậu cần được khám và điều trị dứt điểm. Cần điều trị cho cả cặp vợ chồng hoặc cho từng cặp tình nhân.

Khám điều trị các bệnh lây qua đường tình dục

Sùi mào gà là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục. Biểu hiện là những nụ sùi nhỏ giống như mào gà, hoa lơ ở âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, miệng, họng hoặc dương vật, đôi khi xung quanh lỗ hậu môn. Đó là những u lành tính của tế bào do virus HPV, lây truyền chủ yếu qua giao hợp. Thời gian ủ bệnh từ vài tuần đến vài tháng.
Sùi mào gà phát triển nhanh khi có thai. Việc mọc nhiều sùi mào gà trong khi có thai thì có thể ảnh hưởng đến con khi sinh đẻ.
Biểu hiện sùi mào gà như thế nào? Đó là những mụn mọc thành cục nhỏ, không đau, hồng hoặc hơi nâu, bề mặt xù xì, hình thù như hoa lơ, đôi khi thấy ngứa. Ở phụ nữ thường mọc ở mép hoặc bên trong âm đạo, xung quanh hậu môn. Ở nam giới thường mọc ở dương vật, cũng có thể ở bìu hoặc xung quanh hậu môn. Bệnh có khả năng lây truyền cao cho bạn tình nếu không được điều trị kịp thời.
            
Sùi mào gà nguy hiểm vì làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung – một loại ung thư gây ra bởi virus HPV (rất nhiều nghiên cứu cho thấy tình trạng nhiễm HPV trong 99,8% trường hợp ung thư cổ tử cung). Cần phải nhấn mạnh rằng nhiễm HPV xảy ra trước khi xuất hiện các tổn thương loạn sản và sau đó là các tổn thương ung thư cổ tử cung. Ở nam giới, bệnh cũng có thể gây ung thư dương vật nếu không được điều trị.
Việc điều trị sùi mào gà chủ yếu nhằm phá hủy tổn thương sùi chứ không thể tiêu diệt được virus. Tùy theo vị trí và độ rộng của tổn thương mà có thể lựa chọn một trong những cách điều trị sau:
- Chấm dung dịch trichloactic acid: Dùng một que nhỏ hoặc một cái tăm bông, chấm rất cẩn thận một ít dung dịch trichloactic acid lên những nốt sùi cho đến khi sùi này trắng ra. Khi có thai cũng có thể dùng thuốc này, nhưng không được chấm vào cổ tử cung, lỗ niệu đạo hoặc phía trong hậu môn.
- Sử lý các nốt sùi bằng đốt lase CO2.

Chẩn đoán và điều trị bệnh lậu mủ (lậu)

Bệnh lậu mủ (hay lậu) là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục hàng đầu trên thế giới, do vi khuẩn Gram âm Neisseria gonorrhoeae gây ra.
Triệu chứng
Viêm niệu đạo do lậu có thời gian ủ bệnh từ 3 đến 5 ngày. Đa số nam giới bị bệnh lậu mủ thường có triệu chứng ra mủ nhiều, màu vàng hoặc vàng xanh, tại niệu đạo, kèm theo đái buốt, đái dắt. Nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến lậu mạn tính với các biến chứng thường gặp như viêm mào tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, có thể dẫn tới trạng vô sinh.
           
Biểu hiện bệnh cấp tính ở nữ có những triệu chứng như đái buốt, mủ chảy ra từ trong niệu đạo, cổ tử cung, mầu nâu, vàng hoặc xanh, số lượng nhiều, có mùi hôi. Nhưng vì 50-80% trường hợp bệnh lậu ở nữ không có triệu chứng hoặc triệu chứng không rõ ràng, bệnh nhân nữ hay lậu mạn tính viêm vùng chậu, bị các biến chứng như viêm ống dẫn trứng đến vô sinh và chửa ngoài tử cung. Phụ nữ đang có thai bị lậu không được điều trị có thể bị xẩy thai và gây lậu mắt trẻ sơ sinh
Bệnh Giang mai
Giang mai là bệnh xuất hiện từ thời thượng cổ, lây truyền chủ yếu qua đường tình dục. Đây là một bệnh nhiễm khuẩn do xoắn khuẩn Treponema pallidum gây nên. 
Bệnh Giang mai cũng là một bệnh do vi khuẩn gây ra. Xoắn khuẩn giang mai (T. pallidum) có sức đề kháng rất yếu với môi trường ngoại cảnh, chúng chỉ sống được không quá vài giờ. Ở môi trường khô, chúng chết nhanh chóng, ngược lại trong môi trường ẩm ướt, chúng có thể sống được vài chục phút. Xà phòng có thể tiêu diệt được xoắn khuẩn giang mai trong vài phút.       
          

Bệnh giang mai điều trị như thế nào?
Điều trị bệnh giang mai đã có kết quả rất khả quan, tránh được nhiều biến chứng nguy hiểm của bệnh. Việc lựa chọn phác đồ điều trị tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh, những thuốc điều trị hiện được Phòng Khám sản phụ khoa 112, Phố Mai dịch, Cầu Giấy Bệnh nhân nhân sẽ được điều trị khỏi ( không khỏi phòng khám sẽ hoàn lại phí điều trị )