Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

Xác định màng trinh đã rách- dấu hiệu xâm phạm tình dục

Y PHÁP SINH DỤC.






I. ÐẠI CƯƠNG :

Cưỡng dâm, hiếp dâm, hãm dâm đều là những từ đồng nghĩa với hàm ý là sự cưỡng bức, ức hiếp, hãm hại và dùng bạo lực để thực hiện dục vọng của mình. Vì vậy, người ta định nghĩa: Cưỡng dâm là hành vi giao cấu không có sự ưng thuận của người phụ nữ đã trưởng thành hay chưa đến tuổi trưởng thành.

Cưỡng dâm là một hành vi xâm phạm đến thân thể, đến phẩm giá của người phụ nữ, đặc biệt người ta coi cưỡng dâm ở tuổi chưa vị thành niên là một tội ác, một hành vi dã man vì nạn nhân chưa có khái niệm về tình dục, thể lực yếu ớt, không có sức chống cự và bộ máy sinh dục chưa phát triển hoàn chỉnh, do đó kẻ phạm tội phải chịu hình phạt nặng.


Hình phạt tội cưỡng dâm có nhiều mức độ khác nhau, nó lệ thuộc vào hành động dâm ô đối với người trưởng thành hay chưa trưởng thành, giao cấu trong màng trinh hay ngoài màng trinh. Các hình phạt của loại tội này đều được xử ở mức án cao nhất như tù chung thân ở Namibia, Ai Cập, tử hình ở Florida (Mỹ)... Tại khoản 4 Ðiều 112 Bộ luật hình sự nước ta quy định "mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi đều là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, chung thân hoặc tử hình". Tuy nhiên loại tội phạm này vẫn không thuyên giảm mà lại có chiều hướng tăng lên và đặc biệt hơn nữa loại tội phạm này đã xuất hiện cả ở nữ giới.

Ở một số nước trên thế giới, trong quan hệ vợ chồng, nếu người vợ không đồng ý mà chồng cố tình thì cũng chịu tội cưỡng dâm hoặc trong trường hợp xin ly hôn tòa án chưa cho ly thân mà chồng cố tình giao cấu thì chồng cũng chịu tội cưỡng dâm.

Thể hiện tính ưu việt và thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc ta, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại chương XII đã xác định 6 loại tội danh này như sau:

- Tội hiếp dâm.
- Tội hiếp dâm trẻ em.
- Tội cưỡng dâm.
- Tội cưỡng dâm trẻ em.
- Tội giao cấu với trẻ em.
- Tội dâm ô đối với trẻ em.

Ở các nước phát triển người ta chia thành nhiều loại tội danh khác nhau trong loại tội phạm tình dục, từ mức độ nhẹ nhất là mặc hoặc sưu tầm đồ khác giới, gây rối loạn tình dục đến tội danh cao nhất là cưỡng dâm và giết người.

Ngoài vấn đề cưỡng hiếp có tính chất hình sự, trong đời sống xã hội còn xảy ra những hành vi tương tự mang hình thái dân sự cần đề cập là: Thông dâm, gian dâm, giao hợp vụ lợi, giao hợp loạn luân. Bộ luật hình sự nước ta đã quy định trong Ðiều 150 chương XV như sau: “Người nào giao cấu với người cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.

Thủ phạm cưỡng dâm thường là người bình thường nhưng cũng có thể gặp ở người mắc bệnh tâm thần (thể cường dục).

Hoàn cảnh bị hiếp dâm: Việc xác minh sự thật bị hiếp dâm dựa vào hoàn cảnh, điều kiện, địa điểm. Giám định viên có thể giúp cơ quan pháp luật điều tra, xem xét về trạng thái tâm lý, tâm thần của nạn nhân, việc này cần thiết để đánh giá tình huống xảy ra. Người bị hiếp dâm có thể xảy ra khi đang làm việc bình thường, đang ngủ, say rượu, gây mê chưa tỉnh, bị thôi miên hoặc mắc bệnh rối loạn tâm thần.


II. ÐẶC ÐIỂM BÌNH THƯỜNG CỦA MÀNG TRINH:

1. Cấu trúc của màng trinh:


Màng trinh là vách ngăn giữa âm hộ và âm đạo, bờ tự do là giới hạn của lỗ màng trinh, bờ cố định bám vào môi nhỏ ở đó có rãnh gọi là rãnh âm hộ màng trinh. Xung quanh màng trinh dày, càng vào trung tâm càng mỏng, vì ở đây chủ yếu là tổ chức liên kết và sợi chun, ít mạch máu và thần kinh. Khi màng trinh có nhiều sợi cơ gọi là màng trinh thịt, tổ chức liên kết chiếm ưu thế là màng trinh xơ. Bề dày của màng trinh từ 1 - 2mm, đường kính của lỗ trinh từ 0,5 - 1cm.

Màng trinh tồn tại tạm thời sau nhiều lần giao hợp, sau những lần đẻ nó rách và teo dần các mảnh màng trinh trở thành những gờ không đều, không bằng nhau, hình thành từng núm nhỏ. Có loại màng trinh dai, cứng cản trở sự giao hợp, có loại chun dãn rất dễ dàng khi giao hợp nhưng không bị rách.

2. Hình thái của màng trinh:



Hình 19. Các loại hình thái của màng trinh.


Màng trinh rất đa dạng, căn cứ vào đặc điểm của lỗ trinh người ta có các tên gọi màng trinh như: Hình vành khăn, hình bán nguyệt, hình đài hoa, hình khế, hình khe, hình cầu nối, hình ống, hình phễu ... Có thể đưa ra 5 loại màng trinh thường gặp:

- Màng trinh hình vành khăn: Là loại phổ biến nhất, lỗ trinh tròn nằm ở giữa, bờ nhẵn đều.
- Hình bán nguyệt: Lỗ trinh chếch lên trên, thường hướng phía lỗ niệu đạo.
- Hình khe: Lỗ trinh chỉ là một khe hẹp dọc.
- Hình khế: Bờ lỗ trinh có nhiều lá, hình thái này dễ nhầm với vết rách.
- Hình cầu nối: Cấu tạo hai lỗ trinh ở hai bên, ở giữa có tổ chức ngăn cách.


III. DẤU HIỆU CỦA SỰ PHÁ TRINH:

Những dấu hiệu trên cơ thể nạn nhân cũng như dấu hiệu rách màng trinh giúp ta xác định có hiện tượng giao cấu hay không. Màng trinh rách có thể gặp ở nhiều nơi, đường rách thường hướng về phía hậu môn, vết rách có thể nông hoặc sâu đến thành âm đạo. Tuy nhiên có trường hợp có giao cấu nhưng màng trinh không rách.

1. Vết rách mới:

Trong vòng 3-4 ngày bờ sắc đỏ, sưng nề và rướm máu, bình thường 4-5 ngày tạo sẹo, từ 8-10 ngày sẹo xơ hóa hoàn toàn, khi hóa sẹo mỗi bên trắng dày, khúc khuỷu, thường không bao giờ hai mép dính liền vào nhau. Nếu bị nhiễm trùng 2 - 4 ngày có mủ và hiện tượng viêm tấy có thể kéo dài từ 15 - 20 ngày. Vết rách do giao hợp thường gặp ở vị trí 5 giờ và 7 giờ.

- Ở con gái đến tuổi trưởng thành, màng trinh xơ mỏng giao hợp dễ dàng và dễ rách, vết rách ít viêm tấy và rất ít tổn thương ở âm đạo và tầng sinh môn.

- Ðối với trẻ em từ 7 - 12 tuổi có thể giao hợp được nhưng tổn thương nặng như bầm tím, viêm quanh âm hộ, rách thành âm đạo, tầng sinh môn có khi cả túi cùng sau. Dấu hiệu tổn thương do dâm ô đối với trẻ em hầu như chắc chắn không có sự ưng thuận.

- Từ 13 tuổi trở lên, dấu hiệu hiếp dâm tương tự như phụ nữ trưởng thành.

- Ðối với trẻ em dưới 7 tuổi, không thể thực hiện giao hợp được vì âm hộ hẹp nên càng ít có khả năng rách màng trinh.

2. Vết rách cũ:

Góc vết rách nhọn, không đều, không cân xứng. Nếu giao cấu nhiều lần, mép ngoài của môi lớn nhão để lộ môi nhỏ, màng trinh teo lại. Ðẻ nhiều lần màng trinh bị hủy còn sót lại những mẩu như mào gà. Trường hợp màng trinh không rách hoặc hai mép dính liền nhau, dùng kính lúp soi thấy màng trinh mất bóng hoặc thấy một vết sẹo nhỏ màu trắng đục.

Ký hiệu vị trí vết rách màng trinh bằng các chữ số trên mặt đồng hồ.



IV. GIÁM ÐỊNH Y PHÁP :

1. Những dấu vết trên người nạn nhân:


1.1. Xác định dấu hiệu phá trinh:


Tìm vết rách và tính chất của vết rách. Nếu vết rách mới có thể thấy vết rách rướm và chảy máu, máu chảy ra từ vết rách màng trinh có tế bào thượng bì, hồng cầu, bạch cầu và tơ huyết. Nếu trong máu có tế bào nội mạc tử cung thường là máu kinh. Máu có thể thấy ở áo quần hoặc ở những nơi xảy ra.

1.2. Tìm tinh trùng:

Trong trường hợp sớm lấy dịch âm hộ và âm đạo để riêng soi tươi tìm hình thể của tinh trùng. Bình thường tinh trùng sống từ 3 - 5 ngày trong âm đạo. Trong trường hợp muộn lấy dịch nghi ngờ đã khô, tìm tinh thể Florence bằng cách ngâm vết nghi ngờ bằng nước muối sinh lý rồi ly tâm lấy cặn, bỏ lên lam kính nhỏ dung dịch Florence, sau đó phủ lá kính để 15 - 20 phút và xem ở dưới kính hiển vi, nếu là tinh dịch sẽ thấy các tinh thể óng ánh đầu vát nhọn đứng rời rạc hoặc chồng lên nhau đó là sản phẩm thoái hóa của tinh trùng.



Soi tươi ------------------ Nhuộm Giemsa

Hình 21. Hình ảnh tinh trùng


1.3. Tìm dấu vết chống cự:

Vết hằn bóp cổ, ấn móng tay ở cổ, xây xát da mặt trong đùi nạn nhân, ở cổ tay, cánh tay và xung quanh miệng, kể cả dấu răng.

2. Dấu vết trên người thủ phạm:

Các vết chống cự của nạn nhân như vết cắn, vết cấu xé, lông tóc rụng, cũng như vết nghi ngờ máu, tinh dịch trên áo quần cần được xem xét và xét nghiệm sớm.

Ngoài ra còn thử nhóm máu, tìm vi khuẩn bệnh hoa liễu ở bộ phận sinh dục cả nạn nhân và thủ phạm nhằm mục đích phát hiện thêm chứng cứ bổ sung cho việc xác định có sự giao cấu.

3. Những điều cần lưu ý khi kết luận giám định:

Kết luận cưỡng dâm không phải là đơn giản nhất là trường hợp người sống, vì có khi nạn nhân là người vu cáo, lập hiện trường để vu cáo. Trước khi giám định cần yêu cầu cơ quan trưng cầu cho biết sự việc, xem xét hiện trường và gặp nạn nhân để tìm hiểu các điều cần thiết như: Hoàn cảnh xảy ra, tuổi, chiều cao, cân nặng, trạng thái tinh thần, tình hình sức khỏe trước và sau khi bị cưỡng hiếp, tiền sử sinh dục, tư thế bị hiếp, cách đối phó của nạn nhân... Hỏi về thủ đoạn của bị can: Dỗ dành, lừa phỉnh, dọa dẫm... một hoặc nhiều người hiếp. Tất cả nhằm mục đích biết được thực hư sự việc và đối chiếu kết quả khi giám định.


V. PHƯƠNG PHÁP KHÁM BỘ MÁY SINH DỤC NẠN NHÂN:

- Nạn nhân nằm ở tư thế sản khoa.

- Ngón trỏ tay phải thăm trực tràng nâng lên và đẩy ra trước, tay trái banh hai mép âm hộ và màng trinh sẽ được bộc lộ. Xem xét hình thể, tính chất, độ dày, độ chun giãn của màng trinh. Tìm những tổn thương ở thành âm hộ, màng trinh.

- Lấy dịch ở âm hộ và âm đạo để tìm vi khuẩn hoa liễu và tinh trùng.

Phải chú ý đến các loại màng trinh hình đài hoa, hình khế vì rất dễ nhầm lẫn với vết rách. Cần phân biệt vết rách màng trinh mới với tổn thương viêm lóet. Trong những trường hợp lỗ trinh quá rộng hoặc màng trinh chun giãn mặc dù có sự giao cấu nhưng không có dấu hiệu rách màng trinh.


----- oo O oo -----

Các nội tiết tố HCG

Các nội tiết tố HCG

Hocmon HCG hay nội tiêt tố HCG (tiếng Anh Human chorionic gonadotropin) là một hormone tiết ra trong thai kỳ. Nó có một vai trò đặc biệt, và liều lượng của nó có thể tiết lộ rất nhiều yếu tố, có hoặc không gắn với thời kỳ mang thai.


HCG là gì và vai trò của nó?
Các hormon HCG được bài tiết vào thời điểm phôi thai bám vào thành tử cung, có vai trò duy trì thể vàng - một thể nhỏ hình thành bên trong quả trứng, nó có vai trò tiết ra progesterone cần thiết cho việc hình thành phôi thai.
Rõ ràng, cho trứng được cố định và phôi phát triển, cơ thể cần các progesterone, đòi hỏi các thể vàng phải hoạt động mà sự hoạt động của thể vàng lại được quy định bởi nội tiết tố HCG. Vì thế vai trò của HCG trong thời kỳ mang thai là rất quan trọng.
Các nội tiết tố HCG: dấu hiện quan trọng
Nội tiết tố HCG là dấu hiệu quan trọng để bác sỹ phát hiện ra tình trạng mang thai của bạn trong ba tháng đầu của thai kỳ khi mà cơ thể bạn chưa có sự thay đổi lớn, HCG có thể phát hiện trong máu chỉ 10 ngày sau khi thụ tinh, còn ở nước tiểu thì chỉ khoảng 1 tuần sau khi thụ tinh. Vì thế để biết chính xác bạn có mang thai hay không thì việc xét nghiệm HCG trong máu và trong nước tiểu đem lại kết quả khá chính xác. Khi xét nghiệm máu nếu mực hCG ít hơn 5mIU/ml thì kết quả thử thai là âm tính và mực hCG hơn 25mIU/ml thì bạn đã có thai.
Sau đó nó cho phép để biết ngày chính xác của thai kỳ bằng cách xét nghiệm tỷ lệ bởi vì nó thay đổi rất chính xác trong thể vàng, xét nghiệm cũng đảm bảo sự vận hành trôi chảy của thai kỳ, bởi vì nếu có một sẩy thai hoặc thai ngoài tử cung thì các HCG hormone làm tăng báo động.
- Có khoảng 85% những phụ nữ mang thai thường có mực hCG nhân đôi trong vòng 48-72 giờ đồng hồ.
Mực HCG có trong từng tuần:
- 3 tuần: 5 - 50 mIU/ml
- 4 tuần: 5 - 426 mIU/ml
- 5 tuần: 18 - 7,340 mIU/ml
- 6 tuần: 1,080 - 56,500 mIU/ml
7 - 8 tuần: 7, 650 - 229,000 mIU/ml
9 - 12 tuần: 25,700 - 288,000 mIU/ml
13 - 16 tuần: 13,300 - 254,000 mIU/ml
17 - 24 tuần: 4,060 - 165,400 mIU/ml
25 - 40 tuần: 3,640 - 117,000 mIU/ml
Không có thai: <5.0 mIU/ml
HCG thấp có ảnh hưởng?
Nếu nó đột ngột thấp đi thì có nghĩa rằng, bạn nên kiểm tra lại vì có thể xảy ra những khả năng sau:
- Tính nhầm ngày thụ thai.
- Có thể bị sảy thai hoặc phôi thai hỏng.
- Có thai ngoài dạ con.
HCG cao có ảnh hưởng?
Cao quá cũng không tốt, nó có thể là biểu hiện của những vấn đề sau:
- Tính nhầm ngày thụ thai.
- Mang đa thai.
- Chửa trứng.
Có nên kiểm tra mức HCG thường xuyên?
Các bác sĩ thường không có thói quen kiểm tra mức HCG của bạn trừ khi bạn đang có dấu hiệu không tốt về sức khỏe. Họ có thể kiểm tra cho bạn nếu bạn ra máu hoặc trải qua những cơn co thắt nghiêm trọng, hoặc có tiền sử sảy thai.
Điều gì có thể ảnh hưởng tới mức HCG?
Không có điều gì ảnh hưởng tới HCG trừ những thuốc có chứa HCG.

Các bệnh thường gặp ở dương vật

Sự ốm yếu của "cậu nhỏ" đã khiến không ít các quý ông mất ăn mất ngủ, vì nó vốn được coi là đại diện cho "sức mạnh" đầy nam tính của đàn ông. Vậy, những chứng bệnh nào mà các "cậu nhỏ" thường mắc phải, độ nguy hiểm và cách khắc phục tình trạng này như thế nào?


1. Chứng cương dương vật
Biểu hiện
Dư­ơng vật duy trì sự cương suốt một thời gian dài (hàng giờ hoặc có khi cả ngày) mà không liên quan gì đến ham muốn tình dục. Nó sẽ gây đau nhức cho người bệnh.
Nguyên nhân
Chứng cương dương vật phát triển do lệch lạc chức năng tuần hoàn, hoặc thần kinh, làm cản trở sự rút máu bình thường của dương vật.
Ảnh hưởng của bệnh
Chứng cương dương vật có thể là một chứng nguy hiểm, vì nếu nó kéo dài quá lâu sẽ làm tổn hại mô bên trong dương vật và dẫn đến bất lực.
Cách khắc phục
Những trường hợp kéo dài và gây đau nhức nặng cần được điều trị ngay. Mục đích điều trị là làm cho dương vật giảm cương càng nhanh càng tốt và giữ để không tái phát. Trong hầu hết các trường hợp đều phải tiến hành tiểu phẫu, phối hợp với thuốc như: thuốc an thần, giảm đau và thụt rửa bằng dung dịch nước muối lạnh. Nếu phương pháp điều trị này không hiệu quả, cần rút máu trong thể hang của dương vật bằng kim hoặc phẫu thuật. Tuy nhiên, nếu phát hiện tình trạng này thì bạn không nên tự ý điều trị mà cần đi khám chuyên khoa và thực hiện theo hướng dẫn của bác sĩ.
2. Bệnh Peyronie (dương vật bị cong)
Biểu hiện của bệnh
Bệnh Peyronie là tình trạng dương vật phát triển bị cong thấy rõ, nhất là khi dương vật cương lên. Tình trạng cong này là do các mảng mô sợi phát triển dưới da dương vật (giống mô sẹo). Dấu hiệu chủ yếu là dương vật bị cong từ từ hoặc vặn lại thành góc, lúc cương cứng bị đau, các mảng mô sợi dưới da dương vật dày lên. Người ta chưa biết rõ nguyên nhân, song bệnh này thường gặp ở đàn ông tuổi trung niên.
Ảnh hưởng của bệnh
Bệnh Peyronie thường ở mức nhẹ và không nguy hiểm. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp người bị bệnh này có thể bị đau khi dương vật cương cứng, có khi còn không giao hợp được. Trong hầu hết các trường hợp bị bệnh Peyronice thì khả năng tình dục không bị ảnh hưởng, trừ những trường hợp nặng thì ít nhiều sẽ gây cản trở như: đau khi dương vật cương cứng, dương vật khó đưa vào âm đạo.
Cách khắc phục
Bệnh phát triển chậm qua nhiều tháng hoặc nhiều năm, có khi lại tự khỏi dần dần và biến mất; hiếm khi trầm trọng. Hiện nay vẫn chưa có cách chữa. Tuy nhiên, bệnh th­ường hết mà không cần điều trị.
3. Dương vật bị vết bầm, tụ máu và bị gẫy
Dương vật bị bầm máu
Nếu dương vật bị chấn thương do va đập, hoặc sau khi giao hợp mạnh mà dương vật bị đau nhức, có các vết bầm đen trên d­ương vật, cũng có thể có các cục máu trong các tĩnh mạch ngay d­ưới da dương vật, tạo thành khối u cứng. Ðôi khi, mạch máu có thể đóng cục, dài vài centimét và cảm thấy như một sợi dây cứng dưới da. Sự bầm tím và tụ máu dưới da dương vật không phải là nghiêm trọng, nhưng chúng có thể gây đau nhức và phải mất vài tuần mới khỏi.
Dương vật bị gãy (mặc dù không có xương)
Sự gẫy dương vật xảy ra khi dương vật cương bị cong nhiều, xé vách mô bên trong. Kết quả là chảy máu và tổn thương, làm đau nhức bên trong. Có khi phải phẫu thuật để chữa trị. Vì vậy, những trường hợp bị gẫy dương vật cần kịp thời đến bệnh viện kiểm tra và điều trị.
4. Các khối u, mụn và các bệnh lây qua đường tình dục
Khi thấy xuất hiện các loại bướu, khối u, vết loét và mụn trên dương vật thì có thể có hai trường hợp xảy ra với quý ông:
- Bệnh đài tiễn và bệnh vảy cám hồng: Bệnh này gây ngứa và da đóng vảy, như­ng không lây và thường biến mất theo thời gian, không cần điều trị.
- Viêm nhiễm nấm như men và nấm da, thường phát triển ở vùng háng và có thể ảnh hưởng đến dương vật, nhất là ở đàn ông chưa cắt bao da quy đầu. Đặc biệt, nhiều loại bệnh truyền qua đường tình dục, gây nên các triệu chứng tương tự. Vì ban nổi trên da bộ phận sinh dục có thể là triệu chứng nghiêm trọng của các bệnh truyền qua đường tình dục như lậu, giang mai…
Vì vậy, khi phát hiện các loại bướu, khối u, vết loét và mụn trên dương vật thì cần được kiểm tra và có hướng điều trị kịp thời.
5. Ung thư dương vật
Biểu hiện của bệnh
Ðây là dạng ung thư rất hiếm và hầu hết liên quan đến quy đầu và bao da quy đầu, nhất là ở đàn ông lớn tuổi. Triệu chứng chính của ung thư dương vật là đau rát, chảy máu hay mủ từ dương vật, hoặc khi thấy khối u trên dương vật không mất đi. Khối u này có thể thấy trên da quy đầu và cần tiến hành sinh thiết để phát hiện bệnh.
Nguyên nhân
Tuy chưa biết rõ nguyên nhân, nhưng vấn đề vệ sinh kém và các viêm nhiễm mãn tính có thể là yếu tố góp phần làm bệnh phát triển.
Ảnh hưởng
Mặc dù ung thư dương vật phát triển chậm, nhưng là một bệnh nghiêm trọng và có thể lan tỏa đến những phần khác của cơ thể, gây tử vong cho người bệnh.
Điều trị
Việc điều trị có thể bằng hóa trị, nếu vết loét hay khối u còn nhỏ. Xạ trị cũng có thể làm khối u teo lại. Nhưng khi khối u đã lớn, lúc ấy phải phẫu thuật cắt bỏ hoặc điều trị bằng tia lade để ngăn chặn sự lan tỏa. Sau phẫu thuật, đầu dương vật được đậy lại bằng vạt da thừa và tạo lỗ tiểu mới. Trong hầu hết trường hợp, ngư­ời bệnh vẫn đi tiểu bình thường, khả năng cương cứng, xuất tinh không bị ảnh hưởng, nhưng dương vật của họ sẽ ngắn hơn, sinh hoạt tình dục sẽ khó khăn hơn.
Một số trường hợp phải cắt bỏ toàn bộ dương vật, phải tạo lỗ tiểu môi ở háng. Nếu bệnh này lây lan tới hạch bạch huyết của háng hoặc bụng, sau phẫu thuật cần xạ trị. Việc phát hiện và điều trị chứng bệnh này cần phải tuân theo chỉ dẫn của bác sĩ.
6. Chứng hẹp bao quy đầu
Biểu hiện
Hẹp bao quy đầu là tình trạng bao quy đầu không thể tuột khỏi quy đầu của dương vật, khiến việc vệ sinh sẽ khó khăn, dễ dẫn đến các viêm nhiễm, ảnh hưởng da bao quy đầu (tạo sẹo). Các triệu chứng hẹp bao quy đầu thường là tình trạng đỏ, s­ưng, sờ vào thấy đau. Hẹp bao quy đầu còn gây ra tình trạng nghẹt da qui đầu, thư­ờng xảy ra khi bao da quy đầu sau khi kéo ngược ra sau nhưng rồi không lấy trở lại được.
Ảnh hưởng
Nếu bao quy đầu không tuột được và để tình trạng này kéo dài sẽ dễ gây ra viêm nhiễm, gây ảnh hưởng đến dương vật và cho sức khỏe của cơ thể. Ví dụ, tình trạng nghẹt da bao quy đầu có thể cản trở sự tuần hoàn máu đến đầu dương vật; hẹp bao quy đầu sẽ gây đau khi dương vật cương cứng, có khi còn không cương được, nghĩa là dương vật không thể dài và nở lớn được khiến khó hoặc không thể giao hợp.
Điều trị
Tất cả các trường hợp hẹp bao quy đầu đều cần phẫu thuật để cắt da bao quy đầu. Nếu chư­a cắt mà bị viêm, lúc ấy phải điều trị bằng kháng sinh. Cần lưu ý, đối với trẻ nhỏ, da bao quy đầu phải được tuột ra từ từ.
Mời quảng cáo
468 x 60

Những bất thường ở cơ quan sinh dục nữ

Những bất thường ở cơ quan sinh dục nữ

mangthai.vn Những bất thường về cấu trúc của cơ quan sinh dục thường do sự rối loạn quá trình biệt hóa các bộ phận sinh dục trong thời kỳ bào thai. Ở bạn gái, những dị dạng sinh dục thường liên quan đến một số cơ quan như âm đạo, tử cung, vòi trứng ... Bất kỳ một dị dạng nào đều có thể ảnh hưởng đến hoạt động tình dục cũng như chức năng sinh sản của bạn gái.

1. Màng trinh không thủng
 
Màng trinh không thủng là tình trạng chít hẹp màng trinh, làm cho các chất tiết của âm đạo không thải ra ngoài được. Thông thường, khi bé gái mới sinh ra mà có hiện tượng màng trinh không thủng có thể thấy có một màng mỏng, màu trắng hơi phồng ra ở giữa hai môi bé. 
Bình thường, màng trinh của bạn gái không kín bưng như tang trống mà thường có lỗ để máu kinh hàng tháng thoát ra. Tuy nhiên, có không ít trường hợp, màng trinh của bạn gái không có lỗ. Đây chính là một trong các nguyên nhân khiến bạn gái không thấy có kinh hàng tháng, dù vẫn có một số dấu hiệu của có kinh như đau tức bụng dưới, mỏi lưng, căng tức ngực ...Do đó, nếu bạn gái đã 18 tuổi mà vẫn chưa thấy có kinh thì cần nghĩ đến hiện tượng này. Bác sỹ chỉ cần kiểm tra âm hộ là có thể phát hiện ra ngay và "tạo lỗ" ở màng trinh để hàng tháng kinh nguyệt có thể thoát ra ngoài.
 2. Dính môi sinh dục
Hai môi bé bị dính nhau ở mép, toàn bộ hoặc bán phần. Trường hợp này có thể che khuất âm đạo, khiến bạn gái khó giao hợp hoặc không thể giao hợp, cũng như ảnh hưởng đến việc sinh con.
3. Bất thường ở âm đạo
Âm đạo có cấu tạo hình ống, nối giữa âm hộ và tử cung. Trong một số trường hợp, âm đạo có thể có những bất thường sau:
Không có âm đạo: Có những bạn gái khi sinh ra đã không có âm đạo, tuy nhiên vẫn có thể có tử cung và buồng trứng như bình thường. Trường hợp này, máu kinh cũng không thể thoát ra ngoài được nên bị đọng lại trong tử cung và tràn lên sừng tử cung.
Những trường hợp này khó điều trị, phải phẫu thuật tạo hình âm đạo. Sau khi được điều trị, bạn gái có thể có quan hệ tình dục (giao hợp) và sinh con (nếu hoạt động của buồng trứng, tử cung hoàn toàn bình thường). Những trường hợp này không sinh con theo đường âm đạo mà cần được mổ đẻ.
 
Teo âm đạo bẩm sinh: Bạn gái vẫn có đủ 2 buồng trứng, tử cung, vòi trứng hoàn chỉnh, nhưng chỉ có phần trên âm đạo, còn phần dưới bị teo lại và bít kín. Do vậy, khi đến tuổi dậy thì, máu kinh cũng không thể thoát ra bên ngoài được, khiến bạn gái thường hay bị đau bụng, bụng dưới ngày càng to ra do bị ứ máu kinh lâu ngày. Với những trường hợp này, bác sĩ sẽ mở một đường âm đạo mới cho bạn gái.
 
Âm đạo có vách ngăn (hay còn gọi là âm đạo kép): Trường hợp này có hai loại:
- Vách ngăn ngang âm đạo: Trong âm đạo có vách ngăn ngang âm đạo, có thể nằm ở 1/3 trên hay 1/3 giữa. Nếu vách ngăn không thủng thì sẽ có biểu hiện giống như trường hợp màng trinh không thủng. Nếu vách ngăn có thủng thì chỉ phát hiện được khi quan hệ tình dục dương vật - âm đạo. 
 
- Vách ngăn dọc âm đạo: Thường có khoảng 20% trường hợp này đi kèm với dị dạng tử cung. Vách ngăn dọc âm đạo có thể hoàn toàn suốt dọc âm đạo hoặc chỉ một phần. Biểu hiện chủ yếu là đau khi giao hợp hoặc không giao hợp được.
Ngoài ra cả hai trường hợp này còn có thể ảnh hưởng đến việc sinh con sau này. Chính vì vậy, nếu nghi ngờ có vách ngăn âm đạo cần đi kiểm tra, bác sỹ có thể phẫu thuật để tạo hình dạng bình thường cho âm đạo. 
4. Bất thường tử cung
Không có tử cung: Trường hợp này bạn gái sẽ không có kinh nguyệt và không thể mang thai được. Hiện nay vẫn chưa thể thực hiện được kỹ thuật ghép tử cung nhân tạo.

Tử cung đôi: Có thể có hai tử cung trong tiểu khung. Chúng có thể chung nhau một âm đạo hoặc mỗi tử cung có một âm đạo riêng biệt. Nếu chức năng của một trong hai tử cung vẫn hoàn toàn bình thường thì bạn gái vẫn có thể mang thai. Tuy nhiên, hai tử cung này hiếm khi cùng phát triển hoàn thiện, do đó cần khám và đánh giá chức năng của mỗi tử cung. Đa phần các trường hợp này được cắt bỏ một tử cung bị thoái hoá, chỉ giữ lại tử cung hoàn thiện.
 
Tử cung có vách ngăn: Là loại dị dạng tử cung thường gặp nhất (chiếm khoảng 40%). Những trường hợp này có thể phát hiện nhờ siêu âm, chụp x-quang, soi ổ bụng. Hai tử cung có thể dính với nhau bằng một vách ngăn không hoàn toàn, hoặc vách ngăn hoàn toàn. Những trường hợp này có thể ảnh hưởng đến việc mang thai, dễ gây xảy thai hoặc thai kém phát triển. Do đó, nếu phát hiện thấy tử cung có vách ngăn, bác sỹ thường phẫu thuật để tạo hình dáng bình thường cho tử cung.
 
Tử cung một sừng: Trường hợp này tử cung chỉ có một buồng trứng và một vòi trứng nên bạn gái có thể gặp khó khăn hơn khi mang thai
 
Tử cung nhi tính: Đây là trường hợp tử cung kém phát triển, kích thước chỉ bằng tử cung của các bé gái. Có nhiều nguyên nhân có thể gây ra tình trạng này như: cơ thể phát triển không hài hoà, thiếu sự trưởng thành của nhiều chức năng, bất thường về gene, do rối loạn nội tiết (như suy tuyến giáp, suy thuỳ trước tuyến yên)... Những bạn gái có tử cung nhi tính thường kèm theo không có buồng trứng hay không có âm đạo, do đó không mang thai được. Còn những người có buồng trứng hoạt động bình thường thì vẫn có thể có con nhờ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.
 
 5. Bất thường ở buồng trứng
 
 
Những bất thường ở buồng trứng thường gặp là:
 
 
- Không có buồng trứng hoàn toàn.
 
- U nang buồng trứng.
 
- Chỉ có một bên buồng trứng.
 
- Thừa buồng trứng.
 
- Vị trí buồng trứng bất thường: ở thắt lưng, bẹn.
 
 
Trong trường hợp không có cả hai buồng trứng sẽ dẫn đến hiện tượng vô sinh và những đặc điểm hình thể cũng có nhiều biến đổi. Nếu chỉ có một buồng trứng và vẫn hoạt động bình thường thì bạn gái vẫn có thể có thai.
 
6. Bất thường vòi trứng
 
Một số bất thường thường gặp ở vòi trứng như:
 
- Vòi trứng bị chít hẹp
 
-  Thừa vòi trứng
 
-  Thừa loa vòi trứng.
 
7. Cơ quan sinh dục trong và ngoài không tương thích
 
Trong quá trình phát triển biệt hoá cơ quan sinh dục, bộ phận sinh dục trong và ngoài có thể không tương thích với nhau, ví dụ: có buồng trứng, tử cung, nhưng âm vật lại phì đại gần như dương vật, môi lớn xệ xuống gần như bìu (nhưng không có tinh hoàn) hoặc bộ phận sinh dục ngoài gần giống với nữ (dương vật nhỏ, ngắn, bìu nhỏ), nhưng lại không có tử cung, buồng trứng mà lại có tinh hoàn trong bìu. Những dị dạng này có từ trong giai đoạn bào thai và ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định giới tính của trẻ sau khi ra đời. Vì vậy, nếu phát hiện sớm, có thể phẫu thuật chỉnh hình để cơ quan sinh dục trong và ngoài tương ứng với nhau và bảo tồn được chức năng của các cơ quan sinh dục. Trong những trường hợp đã lớn, đã nhận thức được về giới tính của bản thân cũng như đã phát triển thiên về giới tính nào thì có thể được chỉnh sửa cơ quan sinh dục cho phù hợp. Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề này vẫn còn đang được tranh cãi về mặt pháp lý.

Xuất tinh ngoài âm đạo

Xuất tinh ngoài âm đạo

Đó là khi đang giao hợp, sắp đến lúc xuất tinh, người nam rút dương vật ra khỏi âm đạo và xuất tinh ra ngoài. Tinh trùng không được xuất trực tiếp vào trong âm đạo của người nữ nên đây được coi là một trong những phương pháp tránh thai. Tuy nhiên, hiệu quả của nó đối với việc tránh thai là không cao; không thể tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục và làm giảm "khoái cảm của cả hai".

Hiệu quả tránh thai của xuất tinh ngoài âm đạo
Phương pháp này hiệu quả tránh thai thấp, chỉ khoảng 60 -70%, vì những nguyên nhân sau:
Trong quá trình giao hợp, dịch tiết ra từ dương vật do hưng phấn tình dục (trước khi xuất tinh) cũng có thể chứa tinh trùng, cho nên dù không xuất tinh  trực tiếp vào âm đạo thì vẫn có khả năng có thai do sự hấp dẫn hoá học của dịch âm đạo với tinh trùng. Đó là chưa kể trước khi phóng tinh, một vài giọt tinh dịch có thể rớt ra rồi mà người nam không biết, gây thụ thai.
Khi giao hợp, người nam phải xuất tinh ra ngoài. Điều này tuy đơn giản, nhưng không dễ dàng để thực hiện, vì đó là thời điểm mà nam giới đạt đến đỉnh điểm của khoái cảm, chỉ cần chậm vài giây là có thể dẫn đến việc xuất tinh vào âm đạo, đủ để vỡ kế hoạch sinh đẻ (với cặp vợ chồng) hay có thai ngoài ý muốn (với người chưa kết hôn). Phương pháp xuất tinh ngoài âm đạo đòi hỏi điều kiện duy nhất là bạn tình nam có quyết tâm, có ý thức trách nhiệm.
Ngay cả khi "thực hành" hoàn hảo, vẫn có tỷ lệ thất bại, khoảng 5 - 20 trong 100 cặp vợ chồng sử dụng phương pháp xuất tinh ngoài có thể có thai ngoài ý muốn. Dù hiệu quả của việc tránh thai bằng phương pháp xuất tinh ngoài âm đạo không đạt tỉ lệ cao, song vẫn còn tốt hơn rất nhiều là không áp dụng  biện pháp tránh thai nào.
Không thể tránh được bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
Nếu tác dụng tránh thai bằng cách bắt “cậu nhỏ khóc ngoài biên ải” đạt khoảng 70% thì hiệu quả tránh bệnh lây truyền qua đường tình dục lại hầu như bằng 0. Bởi vì, vi khuẩn hoàn toàn có thể thâm nhập vào cơ thể bạn tình thông qua những lần cọ xát trực tiếp, đặc biệt trong dịch nhầy cũng có chứa một lượng lớn các loại vi khuẩn. Vì thế, việc lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục sẽ chắc chắn xảy ra khi bạn tình mắc bệnh. Thế nên, nếu bạn đã và đang là nạn nhân của những mầm bệnh như: giang mai, lậu, nấm, HIV... thì đừng bao giờ phòng bệnh bằng phương pháp xuất tinh ngoài âm đạo.
Ảnh hưởng đến hưng phấn tình dục
Việc áp dụng biện pháp trên ảnh hưởng đến sự hòa hợp tình dục do người đàn ông luôn phải tập trung cao độ, lo rút “dương vật” ra khỏi “âm đạo" khiến tâm lý rất căng thẳng và làm giảm cực khoái của cả hai.
Mặt khác, về lâu dài, việc xuất tinh ngoài âm đạo thường xuyên còn có thể khiến đàn ông bị xuất tinh sớm, liệt dương. Bởi khi chuyện “yêu” lên đến cao trào, tim sẽ đập nhanh, huyết áp tăng, gây sung huyết ở hệ sinh dục, nếu quy trình này đột ngột gián đoạn thì lâu dần sẽ gây mất cảm giác.
Ngoài ra, khi nam giới đạt đến đỉnh của sự thăng hoa thì phụ nữ có thể chưa tới, nếu bạn ngừng giao hợp để xuất tinh thì sẽ làm giảm hưng phấn, giảm khoái cảm ở bạn tình. Tình trạng này nếu kéo dài sẽ khiến phụ nữ bị lãnh cảm tình dục.
Lời khuyên cho bạn
Với những người trẻ chưa kết hôn, cần có suy nghĩ nghiêm túc về hậu quả của việc có thai khi chưa mong muốn bằng những biện pháp sau:
Kiềm chế không quan hệ tình dục: Những đôi bạn tình lựa chọn hành vi này cần chia sẻ thẳng thắn với nhau để giới hạn những hành vi của họ, nhằm không dẫn đến tình trạng không thể kiềm chế.
Nếu không thể thực hành kiềm chế thì cần biết những phương pháp tránh thai khác như: dùng bao cao su, thuốc diệt tinh trùng hay tính ngày an toàn, uống viên tránh thai hằng ngày... Trong đó, tốt nhất là dùng bao cao su và kết hợp 2 phương pháp thì càng tốt. Trong trường hợp đã lỡ có quan hệ tình dục mà không sử dụng bất kỳ biện pháp tránh thai nào thì có thể dùng đến phương pháp tránh thai khẩn cấp.
Đối với các cặp vợ chồng, chúng tôi muốn nói với bạn rằng: Tất cả những yếu tố trên ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý, sức khỏe tình dục của bạn. Vì thế, bạn nên lựa chọn cách nào tốt nhất để tinh binh được giải phóng mà vẫn đảm bảo không có thai ngoài ý muốn, không làm ảnh hưởng tới cảm xúc “yêu” của vợ chồng. Biện pháp lý tưởng với đàn ông vẫn là bao cao su.

Cơ quan sinh dục ngoài của nữ giới

Cơ quan sinh dục ngoài của nữ giới

Khác với cơ quan sinh dục bên ngoài của nam giới là phô bày rõ rệt, những cơ quan sinh dục bên ngoài ở nữ thường nằm khuất phía dưới, được che kín bởi lông hạ bộ và bởi phần trên của hai đùi khi đứng thẳng. Cơ quan sinh dục ngoài của nữ bao gồm: môi lớn, môi bé, âm hộ, âm vật, màng trinh.


Môi lớn, môi bé
Bắt đầu từ bên dưới đệm là một rãnh kép do các nếp da hình vòng cung tạo thành, đó là các môi lớn (môi ngoài) và môi bé (môi trong) gặp nhau ở giữa, bọc lên phía trên của âm vật. Chúng ngăn cách vùng cơ quan sinh dục nữ với lỗ thoát của hệ tiêu hoá (hậu môn). Hai môi  này che chở và bảo vệ toàn bộ cơ quan sinh dục, trước hết là âm vật, sau đó là lỗ niệu đạo và âm đạo nằm ở bên dưới.
Âm hộ
Âm hộ hay còn gọi là cửa mình, nằm bên phía trong thành môi nhỏ, phía dưới lỗ niệu đạo và phía trên hậu môn, là cửa dẫn vào âm đạo.
Âm vật
Là cơ quan sinh dục rất đặc biệt, cơ quan này không có một chức năng gì khác ngoài việc cung cấp khoái cảm tình dục. Âm vật thường có kích thước chỉ bằng hạt đậu, nằm gép trong một nếp mô, ở chỗ hai môi bé gặp nhau. Khi được kích thích tình dục, âm vật cương cứng giống như một dương vật nhỏ. Âm vật và các môi là những cơ quan quan trọng đối với phản ứng tình dục của người phụ nữ. Khi có kích thích, chúng được nhồi đầy máu xung quanh, căng phồng và ép lên các tuyến nhỏ nằm bên trong các môi bé, khiến tuyến này tiết ra một chất dịch làm ẩm ướt vùng xung quanh và phía trong là lỗ âm đạo. Nhờ các chất dịch này giúp cho dương vật đi vào âm đạo dễ dàng hơn và không gây đau cho người phụ nữ.
Màng trinh
Nó là một nếp niêm mạc mọc ra từ chung quanh âm môn, che phủ lỗ ngoài của âm đạo, nhưng không phải kín bưng mà nó có lỗ để máu kinh hàng tháng thoát ra. Tùy theo hình dáng của lỗ mà màng trinh có hình dạng khác nhau: lỗ hình tròn nhỏ hay trái xoan, lỗ hình nửa vòng tròn, hoặc lỗ hình lá, hình bầu dục... Màng trinh thật ra là một phần dư sót lại trong thời kỳ thai nhi phát triển, do đó có nhiều bé gái khi sinh ra đã không có màng trinh. Ở lớp niêm mạc màng trinh có những mao mạch. Hơn 60% trường hợp màng trinh mỏng khi giao hợp lần đầu thì dễ rách và chảy máu. Cá biệt có loại khá dày và giao hợp không được, cần phải nhờ bác sĩ cắt rạch màng trinh. Nhưng đáng lưu ý là có gần 30% các loại màng trinh dai và co giãn tốt, giao hợp không rách nên không ra máu. Hoặc màng trinh hình cầu như dải lụa vắt vẻo từ bên này qua bên kia ở cửa âm đạo, khi giao hợp màng trinh chỉ ép vào một bên chứ không rách nên cũng không chảy máu. Một số khác dễ rách khi đi xe đạp, té ngã... dù chưa quan hệ tình dục với ai bao giờ.

Hướng dẫn kiểm tra màng trinh



Đầu tiên phải biết mặt mũi cái màng trinh thế nào đã. Và nó nằm ở đâu. Nó đây, có nhiều hình dạng:
 
 
Nó nằm sâu chừng 1 đốt ngón tay thôi, vạch nhẹ ra là thấy ngay. Đây là hình chụp thật cái màng trinh, loại này thường gặp nhất, xem kỹ nhé:
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Màng trinh khi mới rách thì vẫn còn ít dấu vết. Chinh chiến nhìu thì mất dấu luôn:
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Xem cho kỹ đi. Xong thì chuẩn bị thực hiện.

1- Dụng cụ: 1 đôi găng tay y tế, mua ở nhà thuốc, rẻ lắm. 1 cái đèn pin hoặc đèn bàn, nếu tự kiểm tra thì cần thêm cái gương.

2- Chuẩn bị: Người được kiểm tra cần tắm rửa sạch sẽ (tránh mùi thúi ^^), cởi hết quần ra. Nếu tự kiểm tra thì ngồi xổm, gương để dưới nền, đặt đèn bàn và điều chỉnh sao cho nhìn rõ âm hộ. Nếu có người khác kiểm tra thì nằm ngửa, co gối, dạng chân. Người kiểm tra đối mặt với âm hộ. Đeo găng tay vào chuẩn bị kiểm tra (nếu ko có găng thì phải rửa tay thật sạch bằng xà phòng diệt khuẩn để tránh làm bẩn âm hộ, vì âm hộ rất quý ^^)

3- Kiểm tra: Nhìn bên ngoài thì âm hộ như 1 cái khe dọc từ trên xuống gần sát hậu môn. Lỗ âm đạo nằm đoạn cuối của khe, nghĩa là gần sát hậu môn. Hai tay nhẹ nhàng vạch 2 mép âm hộ tại vị trí lỗ âm đạo. Soi đèn nhìn vào sẽ thấy màng trinh, nếu còn. Đơn giản thế thôi. Trong quá trình xem màng trinh cấm chạm vào hậu môn rồi lại chạm vào âm hộ gây nhiễm khuẩn. Và cấm chọc ngoáy vào làm rách oan cái màng trinh.

Nhiễm chlamydia - bệnh lây qua đường tình dục hay gặp nhất

Nhiễm chlamydia - bệnh lây qua đường tình dục hay gặp nhất  

Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 
Nhiễm chlamydia - bệnh lây qua đường tình dục hay gặp nhất Ở các nước đang phát triển, căn bệnh này còn phổ biến hơn bệnh lậu; nhiều người còn mắc cả hai. Trong số bệnh nhân lậu, có tới 25% nam giới và 50% nữ giới nhiễm chlamydia. Bệnh có thể gặp ở mắt, phổi, cơ quan tiết niệu, sinh dục.

 Mức độ nặng nhẹ của bệnh tùy thuộc vào tuổi của bệnh nhân và cách lây truyền. Bệnh ở đường sinh dục thường phát sau khi nhiễm 1 tuần lễ. Với nữ giới, khuẩn chlamydia thường gây tấy đỏ và khó chịu ở âm đạo kèm theo khí hư màu vàng hoặc xanh, số lượng không nhiều. Với nam giới, nó có thể gây tiết dịch ở niệu đạo; dịch trong, nhầy hoặc trắng đục, vàng; có khi chỉ thấy ướt hoặc dính ở miệng sáo và cảm giác nóng mỗi khi đi tiểu.
 Bệnh nhân có thể thỉnh thoảng bị sốt nhẹ. Tuy vậy, phần lớn người bệnh, nhất là phụ nữ, thường không có triệu chứng gì. Nhưng dù có triệu chứng hay không, họ vẫn có thể làm lây truyền bệnh cho bạn tình.
 Khi phụ nữ bị nhiễm chlamydia, bệnh có thể lan vào cơ quan sinh sản trên như tử cung, vòi fallope và buồng trứng. Nó có thể gây viêm tiểu khung, để lại sẹo ở vòi fallope mà hậu quả là vô sinh. Phụ nữ đang mang thai nếu nhiễm chlamydia ở đường sinh dục có thể làm lây bệnh cho con trong khi sinh, gây viêm kết mạc hoặc viêm phổi. Trẻ sơ sinh bị viêm kết mạc do chlamydia thường không sốt, nhưng mắt (một hoặc cả hai bên) bị đỏ và sưng, có đầy dử màu vàng. Bệnh phát sau 3 ngày hoặc 5-6 tuần lễ kể từ khi sinh, trung bình sau 5-14 ngày.
 Trẻ sơ sinh bị viêm phổi do chlamydia có thể không sốt nhưng nhịp thở nhanh và bất thường. Trẻ có thể ho, nôn, da hơi xanh hoặc hơi xám. Khoảng một nửa số trẻ này có kèm viêm kết mạc. Trên thực tế, phần lớn trẻ được đưa đến bệnh viện muộn (thường sau 3-16 tuần tuổi), khi đã có những rối loạn hô hấp.
 Chlamydia là loại vi khuẩn khó nhận diện bằng các thử nghiệm đặc trưng ở phòng xét nghiệm. Chúng sống và sinh sản ở bên trong các tế bào cơ thể người, bị diệt bởi các thuốc kháng sinh (trừ penicillin vì thuốc này không có hiệu lực với chlamydia).
 Trẻ mới sinh bị viêm kết mạc do chlamydia thường được điều trị khỏi sau 10-14 ngày, nhưng bệnh hay tái phát. Nếu không được điều trị bằng kháng sinh, bệnh có thể tiến triển thành viêm phổi. Tình trạng sức khỏe của trẻ bị viêm phổi do chlamydia thường được cải thiện sau 5-7 ngày sau khi dùng kháng sinh, và phải điều trị duy trì trong 3 tuần lễ.
 Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia Phòng khám đa khoa Hữu Nghị Việt pháp chúng tôi về chlamydia. Nếu bạn vẫn còn thắc mắc có thể nhận tư vấn trực tiếp với các chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, đăng ký qua mạng có thể được miễn phí đăng ký và được ưu tiên sắp xếp bác sĩ khám bệnh. Bạn cũng có thể gọi điện đến đường dây nóng: 0466741651 hoặc nhận tư vấn trực tiếp qua yahoo : vietphapclinic@yahoo.com

Lậu Mãn Tính

Bệnh lậu

Lậu Mãn Tính

Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 
lau-man-tinhLậu là một bệnh nhiễm khuẩn, thường lây truyền qua quan hệ tình dục. triệu trứng của bệnh lậu mãn tính, phương pháp điều trị bệnh lậu mãn tính, phòng khám đa khoa Thiên Tâm chuyên chữa bệnh lậu mãng tính, bệnh xã hội , phòng khám nam khoa, phòng khám phụ khoa.
Ở nam giới biểu hiện tiểu dắt, tiểu buốt, ít khi thấy tiểu mủ. Đa số các trường hợp thấy có chất nhầy như nhựa chuối chảy ra ở niệu đạo vào sáng sớm, lúc ngủ dậy, khi đi tiểu. Nam giới bị lậu nếu không phát hiện sớm và điều trị đúng phác đồ thì dễ chuyển thành mạn tính và khi đã trở thành lậu mạn tính thì rất khó điều trị. Bệnh lậu ở nam giới cũng cần được chẩn đoán phân biệt với các bệnh có triệu chứng giống lậu nhưng gây ra bởi các vi khuẩn khác như chalmydia và mycoplasma.
Để chẩn đoán xác định lậu mạn tính ở nữ giới (kể cả ở nam giới) cần làm xét nghiệm tìm vi khuẩn nhiều lần, nhiều loại bệnh phẩm khác nhau và nhiều phương pháp khác nhau. Bệnh lậu mạn tính ở nữ cũng cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh cũng gây viêm âm hộ, âm đạo do vi khuẩn chlamydia trachomatis, mycoplasma, trùng roi, nấm candida albicans, tạp khuẩn để điều trị có hiệu quả.
Triệu chứng : Đây là dấu hiệu đặc biệt ở giai đoạn đầu của bệnh lậu và cũng nhờ dấu hiệu này mà chẩn đoán ra bệnh lậu: Do phản ứng bảo vệ của cơ thể, lậu cầu khuẩn không xâm nhập được vào sâu hơn, chúng tạo mủ ở niệu đạo, gây rát buốt, đái dắt.
Ở nam giới, triệu chứng thường là tiết dịch ở dương vật, đặc, màu trắng như mủ hay vàng và thấy rất nóng rát lúc tiểu (có mủ dính đặc ở miệng sáo).
Bệnh lậu thường biểu hiện giống bệnh nhiễm vi khuẩn Chlamydia .
Nam giới phát hiện triệu chứng bị nhiễm từ 2 cho đến 10 ngày sau khi có quan hệ tình dục không an toàn với người bệnh.
Nguyên nhân : Vi khuẩn gây bệnh lậu (Neisseria Gonorrhoeae) có thể làm viêm nhiễm cổ tử cung, đường tiểu, trực tràng hay cổ họng sau khi có quan hệ tình dục trực tiếp với người bị nhiễm.
Hình ảnh vi khuẩn gây bệnh lậu mãn tính trên kính hiển vi
Chuẩn đoán : Chuẩn đoán bệnh qua đường xét nghiệm mẫu dịch tiết từ cổ tử cung, cổ họng, trực tràng (phần ruột già gần hậu môn). hay dương vật (tùy thuộc vào cách giao hợp). Một vài loại xét nghiệm có thể biết kết quả liền, có loại phải chờ vài ngày sau.
Chữa trị : Nên đi khám bác sỹ nếu có một trong các triệu chứng trên hoặc : Nếu bệnh mới phát trước đây thường dùng một liều kháng sinh như Penicillin. Còn hiện nay có thể phải cần kháng sinh khác hoặc kết hợp nhiều loại kháng sinh do vi khuẩn bệnh lậu đã lờn (kháng thuốc) với Penicillin. Tốt hơn hết vẫn nên đi đến bệnh viện da liễu . Không nên giao hợp cho đến khi kết quả xét nghiệm lần chót báo âm tính.
Ở nam giới, tinh hoàn có thể bị nhiễm, gây đau nhức và có nguy cơ dẫn đến vô sinh.Nhiều người tưởng hết bệnh khi không còn dịch tiết nên không đi chữa trị. Tuy nhiên, dù không còn triệu chứng, bệnh vẫn hiện diện trong cơ thể, do đó đi khám bệnh và chữa trị là tối quan trọng.
Nếu mọi người ai đó bị bệnh Lậu ( Căn bệnh xã hội) như đã mô tả ở trên, chữa trị dây dưa không dứt hẳn. Hiện nay đã kháng thuốc , bệnh di căn vào bàng quang mà triệu chứng :Nếu không điều trị kịp thời và đầy đủ thì sau 10-15 ngày nhiễm khuẩn lan rộng dẫn đến viêm niệu đạo toàn bộ, khi đó đái dắt, đái khó, có thể đái ra giọt máu ở cuối dòng, mủ chảy ra nhiều, hạch bẹn có thể sưng đau. Bí tiểu tiện, đi đái ít một rát buốt(Thèm đái), nước tiểu đục,đường đi nước tiểu rẽ nhánh(Sỏi niệu đạo),... hoặc nhiễm trùng đến tinh hoàn, làm xệ một bên tinh hoàn rồi đến hai bên.
Biến chứng của bệnh lậu ở đường sinh dục - tiết niệu :
Đối với nam giới gây chít hẹp niệu đạo là biến chứng thường hay gặp nhất và cũng là vấn đề làm cho bệnh nhân mắc lậu mạn tính buồn phiền nhất do gây tiểu khó, bí tiểu rất khó chịu và đến lúc không thể chịu được. Nhiều trường hợp chít hẹp niệu đạo phải thông tiểu nhiều lần đưa đến viêm đường tiết niệu ngược dòng rất phức tạp cho điều trị.
Bệnh lậu có thể dẫn tới các biến chứng ở nam giới như: Sỏi niệu đạo (Đường tiểu chia đôi,chia ba); viêm ống dẫn tinh và mào tinh hoàn; viêm túi tinh và ống phóng tinh; viêm dưới niêm mạc niệu đạo gây nhiều túi mủ xung quanh niệu đạo.
Các chuyên gia Nam Khoa của phòng khám Đa Khoa Hữu Nghị Việt Pháp 112, Phố Mai dịch, Cầu giấy khuyên bạn,nếu phát hiện mình mắc bệnh Lậu mãn tính và các dấu hiệu của bệnh lậu cần kịp thời tới các phòng khám chuyên khoa để khám và điều trị.

Cấu tạo của dương vật

Dương vật

Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 
Động mạch của dương vật bắt nguồn từ động mạch bụng, có ba nhánh:
Cấu tạo bên ngoài
Dương vật được cấu tạo giống như một đường ống hình trụ xốp và mềm, gắn liền với bụng dưới, treo ngay dưới xương mu (symphysis pubis). Dương vật có phần gốc, phần thân và phần đầu: gốc dương vật nằm ởđáy xương chậu và dính vào xương mu bởi dây chằng treo dương vật ((ligamentum suspensorium penis)). Phần thân Dương vật giống như một đường ống và có thể cương cứng được. Phần đầu là phần đỉnh chóp và hơi lớn hơn phần thân, Phần đầu Dương vật được gọi là Qui đầu (glans penii)rất nhạy cảm và cũng có thể cương cứng được.
Qui đầu là 1 phần của đầu thể xốp (corpus spongiosum) được nở rộng và có hình nón cụt. Mặt dưới của qui đầu cũng nằm dựa vào phần đỉnh tròn của 2 thể hang (corpora cavernosa penis) của phần thân dương vật. Ở đỉnh của qui đầu là một lỗ rãnh hẹp gọi là lỗ tiểu hay lỗ niệu đạo (orificium urethræ externum), tinh dịch cũng được phóng ra ngoài qua lỗ này). Vành nở ra ngoài phần đáy của qui đầu gọi là vành qui đầu (corona glandis), lớp vành ngoài này phủ lấy một đường rãnh tròn gọi là rãnh qui đầu (the coronal sulcus), dưới rãnh này là cổ dương vật.
  
Phần đầu của dương vật được bao bằng một nếp gấp bằng da nhỏ và mỏng, nửa niêm mạc, gọi là bao quy đầu (prepucium). Bao qui đầu có chức năng bảo vệ và duy trì độ ẩm của lớp niêm mạc của qui đầu, thường thì qui đầu được bao bọc toàn phần hay bán phần bởi bao qui đầu. Qui đầu bị phơi bày hoàn toàn khi da qui đầu bị tuột khỏi nó khi giao hợp do dương vật cương cứng và vươn thẳng, hay do bị cắt bì. Vệ sinh hằng ngày bên trong lớp da qui đầu ngăn ngừa sự tích tụ bựa dái (màng trắng) (smegma).
Treo phía dưới dương vật là bìu dái (Scrotum). Bìu dái giống như một cái túi da xẫm màu (do nhiều sắc tố da) có nhiều nếp nhăn đựng hai tinh hoàn (hòn dái) nơi tinh dịch được sinh ra khi ở tuổi dậy thì. Khi còn nhỏ, bìu nép sát vào cơ thể, đến tuổi dậy thì, bìu bắt đầu lỏng dần và trĩu xuống. Nó trĩu xuống như vậy là vì các tinh hoàn cần phải được bảo quản ở một nhiệt độ thấp hơn so với nhiệt độ của cơ thể để sản xuất tinh trùng (khoảng 33 °C). Sau khi được sản xuất, tinh trùng được dự trữ trong một phần của tinh hoàn gọi là mào tinh hoàn. Gốc dương vật và một phần của thân dương vật được phủ một lớp lông (xuất hiện ở tuổi dậy thì) để giữ mùipheromone. Lông có thể mọc dài xuống bìu. Lông dương vật là phần mọc rộng ra của lông mu. Có nhiều người mọc lông cả ở xung quanh hậu môn hoặc lan cả ra háng và đùi.
Nếp hãm qui đầu dương vật
Nếp hãm qui đầu dương vật (frenulum preputii penis) là một nếp mô rất co giãn nằm ở mặt dưới của qui đầu. Nếp mô này nối lớp niêm mạc mặt dưới (vernal mucosa) của đầu dương vật với da qui đầu. Chức năng của nếp hãm này là giúp giữ da qui đầu khỏi bị tuột quá xa vị trí của nó và do đó bảo đảm qui đầu được che chở, (da qui đầu có thể được kéo trở lại để che chở cho qui đầu).
Nếp hãm của dương vật đôi khi bị cắt bỏ một phần hay toàn phần trong quá trình cắt bỏ da qui đầu (cắt bì) (do phong tục tôn giáo hay lý do vệ sinh).Nếp hãm rất nhạy cảm khi bị kích thích, do đó đóng phần quan trọng trong cơ cấu gây khoái cảm cho cơ quan sinh dục nam. Nếp hãm có thể bị rách khi làm tình hay thủ dâm và có thể bị chảy máu khá nhiều.
Dấu vết đường rãnh giữa thân dương vật
Ở mặt dưới của dương vật, có thể nhìn thấy dễ dàng vết thẹo của một đường rãnh, còn gọi là đường đan (perineal raphe), chạy dài từ hậu môn, qua bìu (raphe scroti) và mặt dưới thân dương vật (raphe penis), đó là kết quả của sự khâu và hàn lại của khe rãnh đáy chậu trong giai đoạn phát triển bào thai của dương vật và bìu.
Cấu tạo bên trong
Dương vật gồm ba ống hình tròn nằm song song với nhau, cấu tạo bằng các mô cương, trong đó có hai ống thể hang và một ống thể xốp được bao xung quanh bởi ba lớp: lớp cân sâu (cân Buck), lớp mô dưới da và lớp da.
Thể hang
Mô cương là những chỗ phình ra của động mạch xoắn, bao bọc bằng các sợi cơ trơn co dãn được. Hệ thống mô cương và sợi cơ trơn này co dãn để có thể bơm, chứa máu.Thể hang là ống có mô cương gồm nhiều khoảng trống như hang động, chạy dọc theo chiều dài và nằm phía trên của dương vật, bao quanh bởi những lớp cân trắng Buck cách nhau bằng một màng chắn.
Mô cương là những chỗ phình ra của động mạch xoắn, bao bọc bằng các sợi cơ trơn co dãn được. Hệ thống mô cương và sợi cơ trơn này co dãn để có thể bơm, chứa máu.
Thể xốp
Thể xốp là một ống khác chứa bên trong nó là niệu đạo, phần cuối ống nở ra tạo thành đầu dương vật hay qui đầu.
Hệ thống mạch máu của dương vật
Động mạch
Động mạch của dương vật bắt nguồn từ động mạch bụng, có ba nhánh:
Động mạch lưng nằm ở trên lưng dương vật.
Động mạch cung cấp máu cho hai thể hang hay động mạch thể hang.
Động mạch cung cấp máu cho thể xốp hay động mạch thể xốp: động mạch thể hang là một hệ thống mạch máu chằn chịt, chia ra nhiều nhánh nhỏ, chạy dọc theo chiều dài dương vật, có hình xoắn nên gọi là động mạch xoắn. Chính động mạch này cung cấp máu cho các hang mạch máu.
Tĩnh mạch
Máu thoát ra từ các hang mạch máu vào các tĩnh mạch nhỏ rồi từ đó đổ vào tĩnh mạch lớn hơn (gọi là tĩnh mạch lưng) nằm sâu trong các thể hang. Từ đó máu chảy về qua tĩnh mạch lưng nằm gần ngoài da và đổ vào tĩnh mạch bụng.
Hệ thống thần kinh của dương vật
Cơ chế cương được kiểm soát bằng một hệ thống thần kinh tự động. Những dây thần kinh đối giao cảm đi từ xương thiên 2-4 giữ nhiệm vụ chính. Trong khi đó những sợi thần kinh giao cảm đi từ đốt sống ngực số 1 đến đốt thắt lưng số 2 lại kiểm soát sự phóng tinh và làm xìu dương vật.
Những sợi thần kinh đối giao cảm nối với vùng thần kinh ở thể hang chạy phía dưới tuyến tiền liệt và nằm ở gốc dương vật. Các dây thần kinh này rất dễ bị tổn thương khi giải phẫu vùng chậu.
Hệ thống thần kinh cảm giác và vận động tạo thành một vòng cung đi qua vùng trung tâm gây cương ở tủy sống.
Phản xạ cương dương vật có thể trực tiếp từ những kích thích ở dương vật, vì vậy đối với những bệnh nhân khi bị tổn thương hoặc bị cắt phần trên của xương thiên thì sẽ có vấn đề.
Một đường dẫn truyền thần kinh khác từ vỏ não xuống dương vật cũng ảnh hưởng đến chức năng cương. Đó là đường dẫn của những yếu tố gây cương tâm lý, ví dụ như những kích thích nhận được từ mắt, tai, mũi (khi nhìn thấy hay tưởng tượng một hình ảnh kích dục, nghe một chuyện kích dục, hay một xúc cảm, một thay đổi về nội tiết) cũng là nguyên nhân gây cương, làm liệt hay rối loạn chức năng cương dương vật