Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2012

Viêm phổi : nguyên nhân , triệu chứng và cách điều trị



Viêm phổi : nguyên nhân , triệu chứng và cách điều trị

Viêm phổi

Viêm phổi là tình trạng viêm ởphổi thương do vi khuẩn, virus, nấm hoặc các tác nhân khác gây ra. Viêm phổi là vấn đề đặc biệt đáng lo ngại đối với người già, người có bệnh mạn tính hoặc bị suy giảm miễn dịch, nhưngcũng có thể xảy ra ở người trẻ khỏe. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tửvong cho trẻ em trên toàn thế giới.
viem phoi

Dấu hiệu và triệu chứng viêm phổi:

Dấu hiệu và triệu chứng của viêm phổi thường rất giống với cảm lạnh và cúm. Đau ngực là triệu chứng hay gặp nhất. Triệu chứng có thể khác nhau tuỳ theo nguyên nhân:
Viêm phổi do vi khuẩn: triệu chứng thường xảy ra đột ngột, bao gồm rét run, sốt cao, ra mồ hôi, khó thở, đau ngực, ho đờm đặc màu xanh hoặc màu vàng. Viêm phổi do vi khuẩn thường khu trú ở một vùng (thuỳ) phổi và được gọi là viêm phổi thuỳ.
• Virus. Khoảng một nửa số trường hợp viêm phổi là do virus. Bệnh thường bắt đầu với các triệu chứng giống cúm, ho khan, đau đầu, sốt, đau cơ và mệt mỏi. Khi bệnh tiến triển, bệnh nhân có thể có khó thở và ho khạc đờm trong hoặc màu trắng. Người bị viêm phổi virus cũng có nguy cơ bị bội nhiễm vi khuẩn.
• ycoplasma. Viêm phổi do mycoplasma có các triệu chứng giống với viêm phổi do vi khuẩn hoặc virus, tuy nhiên các triệu chứng thường nhẹ và bệnh nhân có thể thậm chí không biết mình bị viêm phổi.
• Nấm. Một số loại nấm có thể gây viêm phổi, mặc dù ít gặp. Một số người có thể có rất ít triệu chứng, nhưng một số người có thể bị viêm phổi cấp và dai dẳng.
• Pneumocystis carinii. Viêm phổi do P. carinii là một bệnh nhiễm trùng cơ hội hay gặp ở người nhiễm HIV/AIDS. Người có hệ miễn dịch suy yếu do ghép tạng, hóa trị liệu hoặc điều trị corticosteroids hay các thuốc ức chế miễn dịch káhc cũng có nguy cơ. Triệu chứng của viêm phổi do Pneumocystis carinii bao gồm ho dai dẳng, sốt và khó thở.
Các dấu hiệu thường gặp:
Các biểu hiện viêm phổi do vi khuẩn thường diễn tiến rất nhanh. Chúng bao gồm:
- Ho. Thường ho ra đờm. Đờm này có thể màu vàng hay xanh hoặc có thể lẫn máu
- Sốt
- Thở nhanh và hơi thở nông
- Rùng mình (có thể chỉ bị 1 lần hoặc lặp lại nhiều lần liên tục)
- Đau ngực và thường cảm thấy tình trạng tệ đi khi ho hay hít vào
- Nhịp tim nhanh
- Cảm thấy rất mệt hoặc yếu
- Buồn nôn hay nôn vọt
- Tiêu chảy
Ở người già, biểu hiện có thể khác hơn. Thường họ ít sốt hoặc có thể ho nhưng không có đờm. Dấu hiệu chính của viêm phổi ở người già là sự thay đổi về mặt nhận thức. Họ thường mê sảng hoặc lẫn lộn. Nếu người già đã có bệnh ở phổi sẵn thì biểu hiện bệnh sẽ nặng hơn.
Nếu viêm phổi do virus thì các triệu chứng tương tự như vi khuẩn nhưng diễn tiến thường chậm hơn và thường không nghiêm trọng hoặc không rõ ràng..

Nguyên nhân mắc bệnh viêm phổi:

Viêm phổi xảy ra khi các tác nhân gây bệnh vượt qua hàng rào bảo vệ của cơ thể và xâm nhập vào đường hô hấp. Tại đó, bạch cầu sẽ bắt đầu tấn công tác nhân gây bệnh. Sự tích tụ của mầm bệnh, bạchc ầu và ccs protein miễn dịch trong phế nang khiến phế nang bị viêm và tích dịch dẫn đến khó thở và các tiệu chứng điển hình của viêm phổi.

Phương pháp phòng ngừa và điều trị viêm phổi:

Việc điều trị thường tuỳ theo mức độ nặng của triệu chứng và loại viêm phổi.
Viêm phổi do vi khuẩn thường được điều trị bằng kháng sinh. Để phòng ngừa hiện tượng kháng thuốc, cần dùng đủ liều kháng sinh kể cả khi bệnh đã thuyên giảm.
Viêm phổi do virus: Kháng sinh không có tác dụng. Bệnh nói chung được điều trị giống như với cúm: nghỉ ngơi và uống nhiều nước.
Viêm phổi do mycoplasma được điều trị bằng kháng sinh. Một số trường hợp bệnh có thể rất nhẹ và không cần điều trị.
Viêm phổi do nấm sẽ được điều trị bằng thuốc chống nấm.
Một số loại thuốc điều trị viêm phổi:
Phải dùng kháng sinh như:penixilin, sunphamit.
Trường hợp nặng: Tiêm penixilin procain: Người lớn tiêm ngày 2 đến 3 lần mỗi lần 400 000 đơn vị. Hay tiêm ampixilin; người lớn ngày tiêm 4 lần, mỗi lần 500 mg. Trẻ nhỏ dùng liều bằng 1/2 đến 1/4 lần người lớn.
Hạ nhiệt và giảm đau: dùng aspirin, axetaminophen,
Cho uống nhiều nước hoặc hít hơi nước nóng.
Nếu không ăn được: cho ăn thức ăn lỏng.
Nếu người ốm thở rít: dùng thuốc hen như teophylin hoặc ephedrin.
Hiện chích ngừa là một cách tốt để phòng bệnh sưng phổi gây do vi trùng Pneumococcus. Theo Viện Cao niên Quốc gia (National Institute of Aging) tại Hoa Kỳ, thuốc vắc- xin sưng phổi Pneumococcus (pneumococcal vaccine) hữu hiệu, tài trợ bởi chương trình Medicare, nhưng tính ra, rất nhiều vị có tuổi hoặc đang mang những bệnh nặng chưa chích ngừa. Chỉ tiêu từ các năm qua, từ năm 2000, Cơquan Y tế Công cộng (Public Health Service) hy vọng trên toàn nước Mỹ số người được chích ngừa phải là trên 60%.
Vi trùng Pneumococcus có nhiều dòng, tuy cùng một giống. Thuốc ngừa sưng phổi Pneumococcus chứa những chất lấy từ 23 dòng vi trùng Pneumococcus khác nhau. Thuốc chích vào người để kích thích cơ thể ta tạo các kháng thể (antibodies) chống lại những dòng vi trùng này.
Đa số người khỏe mạnh chúng ta, 2-3 tuần sau khi chích ngừa, trong người sẽ có kháng thể chống lại hết hay hầu hết các dòng vi trùng này, giúp ta tránh được bệnh sưng phổi gây do chúng (kết quả bảo vệ 85-95%). Người lớn tuổi và nhiều người đang mang một số bệnh kinh niên không tạo được kháng thể tốt như người còn trẻ khỏe, nên sự bảo vệ của thuốc có kém hơn. Trẻ em dưới 2 tuổi cũng thế.
Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Tật bệnh (Centers for Disease Control and Prevention) đề nghị các bác sĩ chích ngừa sưng phổi Pneumococcus cho những quí vị thuộc các thành phần sau đây, có thể nguy đến tính mạng nếu bị sưng phổi Pneumococcus:
  • Các vị từ 65 tuổi, dù không có bệnh gì quan trọng.
  • Trẻ em trên 2 tuổi và người lớn dưới 65 đang mang các bệnh kinh niên nhưbệnh tim, bệnh phổi, thận, đái tháo đường , AIDS, ung thư…, hoặc người đang phải dùng những loại thuốc khiến sức kháng cự của cơ thể suy giảm, như thuốc steroid, các thuốc chống ung thư.
  • Người đã cắt lách, hoặc có bệnh lá lách, nên không làm việc bình thường (lá lách là một cơ quan quan trọng trong việc tạo kháng thể).
  • Người đang ở trong viện chăm sóc đặc biệt (thí dụviên dưỡng lão).
  • Người đã được thay ghép cơ quan (organ transplant recipients), chẳng hạn như thay ghép thận.
  • Người bị xơ gan (cirrhosis), hoặc dù chưa, nhưng nghiện rượu nặng.
Trên nguyên tắc, một mũi thuốc ngừa sẽ bảo vệ ta suốt đời, song những vị sau đây nên được chích ngừa lại sau 5 năm, do sự bảo vệ nhạt dần theo thời gian:
  1. không còn lá lách (hoặc lá lách bệnh, không làm việc đàng hoàng);
  2. bệnh thận;
  3. hội chứng thận hư (nephrotic syndrome: thận không giữ được chất đạm, khiến chất đạm cứ thất thoát ra nước tiểu);
  4. thay ghép cơ quan
  5. Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (chronic obstructive pulmonary disease) do hút thuốc lá
  6. tuổi trên 65, lần chích trước, nếu có, đã quá 5 năm rồi.
Sau khi chích ngừa, thường ta chỉ hơi đau và đỏ một chút nơi chỗ chích. Có người bị đau, đỏ nhiều hơn, có khi nóng sốt và nhức mỏi các bắp thịt (dưới 1% các trường hợp chích ngừa). Thỉnh thoảng có người bị phản ứng nặng (anaphylaxis), gây tình trạng trụy tim mạch (khoảng 5/1.000.000 người có phản ứng nặng).

Ung thư phổi: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị


Ung thư phổi: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị

1. Ung thư phổi là gì ?

  • Ung thư phổi được chia làm hai loại chính: ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, tuỳ thuộc vào hình dạng tế bào dưới kính hiển vi. Mỗi loại ung thư phát triển và lan theo những cách khác nhau và được điều trị khác nhau.
  • Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong cao nhất trong những bệnh nhân ung thư ở nam giới. Ở Việt Nam theo số liệu ghi nhận tại một số vùng ung thư phổi đứng hàng đầu và chiếm 20% trong tổng số hàng trăm loại ung thư.

2. Nguyên nhân gây ung thư phổi.

  • Hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây ung thư phổi. 90% bệnh nhân ung thư phổi do hút thuốc lá. Mặc dù còn 4% bệnh nhân bị ung thư phổi mà không hút thuốc, nhưng vài người trong số họ đã hít một số lượng đáng kể khói thuốc lá (hít khói của người hút thuốc lá). 90% bệnh nhân ung thư phổi đã hút hơn 10 điếu thuốc lá/ ngày trong 20 năm.
ung thư phổi
  • Những công nhân tiếp xúc với bụi silic có nguy cơ cao bị ung thư phổi. Nguy cơ này sẽ tăng lên nhiều lần nếu bệnh nhân có hút thuốc lá.
  • Những tiếp xúc nghề nghiệp khác liên quan tới ung thư phổi bao gồm tiếp xúc với quá trình luyện thép, ni-ken, crôm và khí than.
  • Tiếp xúc với tia phóng xạ có nguy cơ bị các bệnh ung thư trong đó có cả ung thư phổi. Những công nhân mỏ uranium, fluorspar và hacmatite có thể tiếp xúc với tia phóng xạ do hít thở không khí có chứa khí radon.
  • Ngoài ra, nguy cơ ung thư phổi liên quan đến các chất gây ô nhiễm không khí. Các nghiên cứu gần đây thấy ung thư phổi có liên quan yếu tố gen.

3. Triệu chứng của ung thư phổi.

  • Ho không khỏi và ngày càng nặng hơn.
  • Thường xuyên thấy đau ngực.
  • Ho ra máu.
  • Khó thở, ngạt mũi, khàn giọng.
  • Viêm phổi và viêm phế quản tái đi tái lại.
  • Phù nề vùng mặt và cổ.
  • Mất cảm giác ngon miệng hoặc giảm cân.
  • Mệt mỏi.
  • Những triệu chứng này có thể do ung thư phổi gây ra hoặc cũng có thể do các bệnh lý khác gây ra. Điều quan trọng là phải đến bác sĩ khám bệnh.

4. Điều trị ung thư phổi.

Phẫu thuật loại bỏ khối u
  • Có hiệu quả nhất khi khối u còn nhỏ và chưa có di căn, bệnh nhân có thể trạng tốt để phẫu thuật.
  • 20% bệnh nhân được điều trị theo phương pháp này. Những bệnh nhân được phẫu thuật lấy toàn bộ khối u có thời gian sống thêm lâu dài.
Điều trị tia xạ
  • Phương pháp này được áp dụng cho 35% bệnh nhân. Mục đích là phá hủy khối u khi nó còn nhỏ (thường có đường kính 6 cm) và không có di căn.
  • Đối với những khối u lớn thì nó làm giảm sự phát triển của khối u. Phương pháp điều trị này kéo dài đời sống của bệnh nhân nhưng ít khi chữa khỏi bệnh.
Điều trị bằng hóa chất
  • Có tác dụng tốt ở hầu hết bệnh nhân ung thư phổi loại tế bào nhỏ và đôi khi ở những loại ung thư phổi khác.
  • Những tiến bộ gần đây về hóa trị liệu đã làm giảm đáng kể những tác dụng phụ so với trước đây.
Điều trị hỗ trợ
  • Chỉ áp dụng cho khoảng 1/3 bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn không điều trị được bằng các phương pháp kể trên, bao gồm chăm sóc bệnh nhân, điều trị triệu chứng và làm giảm đau.
  • Cần có một chế độ ăn thích hợp, nghỉ ngơi, chăm sóc về mặt y tế và giải trí đôi khi giúp ích cho bệnh nhân ung thư phổi

Tràn dịch màng phổi: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị

Tràn dịch màng phổi: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị

1. Tràn dịch màng phổi là gì ?

  • Tràn dịch màng phổi là một hội chứng nguy hiểm và thường gặp của con người.
  • Đây là một hội chứng rất hay gặp trên lâm sàng, chỉ sự tích đọng dịch vượt quá mức cho phép ở khoang màng phổi. Dịch bị tràn ra có thể là máu, dịch hoặc khí.
tràn dịch màng phổi

2. Nguyên nhân gây tràn dịch màng phổi.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tràn dịch màng phổi và người bệnh thường phải trải qua rất nhiều xét nghiệm, chẩn đoán một cách kỹ càng mới có thể phát hiện ra nguyên nhân chính xác để can thiệp. Thông thường do các nguyên nhân sau :
  • Tràn dịch màng phổi dịch thấm : hội chứng thận hư, suy thận, xơ gan cổ trướng, …
  • Tràn dịch màng phổi dịch tiết : lao màng phổi, ung thư màng phổi, …
  • Tràn máu màng phổi : chấn thương lồng ngực, ung thư di căn tới màng phổi, …
  • Tràn dưỡng chấp màng phổi (chylothorax) : chấn thương lồng ngực gây vỡ ống ngực, …

3. Triệu chứng tràn dịch màng phổi.

  • Đau ngực, đau âm ỉ bên tràn dịch, nằm nghiêng về bên đó thì đau tăng.
  • Ho khan khi thay đổi tư thế, khó thở ngày một tăng.
  • Có thể sốt 38,5 độ hay cao hơn.
  • Chụp X-quang phổi thấy hình mờ đậm, đồng đều, dịch thường ở dưới thấp, có khi mờ ở cả hai bên phổi, tim bị đẩy sang bên đối diện.
  • Nếu có nghi ngờ có ung thư màng phổi hay mảng cặn màng phổi thì phải chụp cắt lớp vi tính lồng ngực
  • Chọc dò màng phổi có dịch, màu dịch có thể vàng chanh, trong, màu hồng hoặc đục như nước vo gạo, như mủ.
  • Để xác định nguyên nhân gây tràn dịch màng phổi, người ta dựa vào màu sắc dịch, các xét nghiệm vi khuẩn, sinh hóa, tế bào học và dựa vào việc thăm khám toàn thân, khám các cơ quan khác có liên quan.

4. Điều trị tràn dịch màng phổi.

  • Tùy theo nguyên nhân gây tràn dịch màng phổi mà có chỉ định điều trị thích hợp như nhiễm khuẩn, điều trị bằng kháng sinh; ung thư điều trị bằng phẫu thuật và hóa chất; điều trị suy tim, suy thận, xơ gan, áp-xe gan.
  • Sau khi điều trị dịch màng phổi hết, phải tiến hành tập thở, cho thuốc chống dính để tránh dày dính màng phổi.

Rò hậu môn: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị.

Rò hậu môn: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị.

1. Rò hậu môn là gì ?

  • Rò hậu môn (còn gọi là mạch lươn) là bệnh ở vùng hậu môn trực tràng phổ biến thứ hai sau bệnh trĩ, tuy không gây nguy hiểm chết người nhưng gây rất nhiều phiền toái trong cuộc sống hằng ngày.
  • Rò hậu môn chủ yếu do nhiễm trùng ở các khe và nhú trong ống hậu môn , từ đó làm viêm và tụ mủ ở các tuyến hậu môn ở giữa hai cơ thắt hậu môn , sau đó phá miệng ra da vùng cạnh hậu môn .
  • Từ dân gian thường dùng để mô tả bệnh rò hậu môn là mạch lươn.
  • Người mắc bệnh chủ yếu là nam giới và những người ở độ tuổi 30 – 50
rò hậu môn

2. Nguyên nhân gây bệnh rò hậu môn.

  • Rò hậu môn bao giờ cũng bắt nguồn từ các apxe hậu môn trực tràng không được điều trị hay điều trị không đúng lúc hoặc không đúng kỹ thuật.
  • Nguyên nhân rò là do viêm nhiễm xuất phát từ tuyến hậu môn do vi khuẩn như trực khuẩn coli, tụ cầu trùng, liên cầu trùng…
  • Ngoài ra có nhiều bệnh lý có thể đưa đến rò hậu môn : bệnh lao, Crohn, Nấm actinomycosis, ung thư hậu môn trực tràng, …

3. Các loại rò hậu môn.

  • Rò hoàn toàn: lỗ trong và ngoài thông với nhau.
  • Rò không hoàn toàn: đường rò chỉ có 1 lỗ hay còn gọi là rò chột.
  • Rò phức tạp: đường rò ngoằn ngoèo nhiều ngóc ngách, nhiều lỗ thông ra ngoài da còn gọi là rò móng ngựa.
  • Đường rò đơn giản: đường rò thẳng ít ngóc ngách.
  • Rò trong cơ thắt : là loại rò nông là hậu quả của apxe dưới da cạnh hậu môn, loại này điều trị thường cho kết quả tốt, ít tái phát.

4. Triệu chứng rò hậu môn.

  • Khi bị rò hậu môn sau một thời gian ổ apxe quanh hậu môn tự vỡ, vết thương tự liền lại được nhưng để lại một lỗ đóng vẩy khô thỉnh thoảng chảy mủ hoặc dịch vàng hôi, tái đi tái lại nhiều lần.
  • Bệnh nhân bị rò hậu môn với lỗ rò đã hình thành thường có tiền sử có những cơn đau ngắt quãng và mủ chảy ra từ một lỗ ở tầng sinh môn, cơn đau tăng lên khi mủ không chảy ra và giảm đau khi có mủ thoát ra. Trường hợp có lỗ trong ở trực tràng to thì có thể thấy phân chảy ra ở lỗ rò ngoài.
  • Nếu bệnh nhân bị áp xe quanh hậu môn, nhìn sẽ thấy một khối phồng căng ở cạnh hậu môn, đè lên khối phồng đó rất đau
  • Nếu bệnh nhân bị rò hậu môn nhìn sẽ thấy có một mụn mủ nổi lên cạnh hậu môn, trên mặt mụn mủ có một mài, nặn mụn mủ đó thấy có ít giọt mủ chảy ra.
  • Do mụn mủ chảy mủ từng đợt và lượng mủ không nhiều, nên bệnh nhân thường bỏ qua không đi khám, chỉ đến khi mụn mủ chảy mủ nhiều ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày bệnh nhân mới chịu đi khám bệnh

5. Cách điều trị rò hậu môn.

  • Nếu loại áp xe cạnh hậu môn cần phải được rạch tháo mủ càng sớm càng tốt tránh ổ mủ lan tràn tạo thành các đường hầm như mạch lươn làm hư hại nhiều tổ chức ở vùng hậu môn.
  • Nếu là rò hậu môn, cần phải chẩn đoán chính xác thương tổn rò qua siêu âm và phải phẫu thuật cắt bỏ được mô xương đường rò, nhưng phải bảo vệ an toàn cơ thắt hậu môn vì tai biến cắt đứt cơ thắt làm cho bệnh nhân đi cầu mất tự chủ là một tai biến rất đáng ngại hơn nhiều so với bệnh rò hậu môn.
  • Vì vậy để bảo vệ cơ thắt hậu môn khi mổ, người ta thường sử dụng phương pháp cột dây thun để cắt dần cơ thắt này, việc cột dây thun này còn có tác dụng dẫn lưu mủ và an toàn cho phẫu thuật đường rò. Việc cột dây thun này có 2 tác dụng :
    + Bảo vệ sự toàn vẹn cơ thắt hậu môn.
    + Dẫn lưu ổ nhiễm trùng và làm thay đổi tình trạng nhiễm trùng cấp tính.

Bệnh vảy nến: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị

Bệnh vảy nến: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị

1. Bệnh vảy nến là gì ?

  • Bệnh vảy nến  là một bệnh ngoài da mãn tính, hay tái phát với đặc trưng là những mảng hồng ban có vảy trắng bạc và dính rất ngứa, thường có trên khuỷu tay, cánh tay trước, đầu gối, chân, da đầu…Bệnh lành tính, thường không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến thẩm mĩ, tâm lí và những hệ lụy của nó.
  • Bệnh vảy nến có ở 1,5-2% dân số thế giới, gặp nhiều ở vùng Bắc Âu. Nam gặp nhiều hơn nữ, người lớn nhiều hơn trẻ em. Bệnh phát thành từng đợt, có khi tăng giảm theo mùa.
bệnh vảy nến

2. Nguyên nhân gây bệnh vảy nến.

Vẩy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì. Cho đến nay vẫn chưa khẳng định rõ ràng nguyên nhân. Nhưng người ta biết chắc chắn 5 yếu tố sau đây làm nên cơ chế sinh bệnh vảy nến :
  • Di truyền: Khoảng 30% bệnh nhân có yếu tố gia đình (cha, mẹ, anh chị em ruột hoặc họ hàng trực hệ); 70% các cặp song sinh cùng mắc. Các nghiên cứu chỉ ra các kháng nguyên HLAW6, B13, B17, DR7 liên quan đến vẩy nến da và khớp.
  • Nhiễm khuẩn: bệnh vẩy nến ở trẻ em, vẩy nến thể giọt người ta phân lập được liên cầu khuẩn ở tổn thương và điều trị kháng sinh thì bệnh thuyên giảm.
  • Stress: Làm bệnh tái phát hoặc đột ngột nặng lên.
  • Thuốc: Bệnh vẩy nến xuất hiện sau khi sử dụng một số thuốc: chẹn beta kéo dài, lithium, đặc biệt sau khi sử dụng corticoid.
  • Hiện thượng Kobner: thương tổn mọc lên sau các kích thích cơ học (gãi, chà xát) hoặc các kích thích lí hóa (bệnh nặng nhẹ theo mùa).

3. Triệu chứng bệnh vảy nến.

  • Đặc điểm bệnh vảy nến rất dễ nhận thấy bởi những tổn thương riêng lẻ có giới hạn rõ.
  • Người bệnh thấy xuất hiện các đám mảng đỏ kích thước khác nhau, từ vài milimet đến vài chục centimet, hơi gồ cao, nền cứng cộm.
  • Vảy nhiều tầng, nhiều lớp, dễ bong, khi cạo vụn ra như bột phấn, như vết nến rơi lả tả.Vảy tái tạo rất nhanh, số lượng nhiều.
  • Thương tổn mới xuất hiện trên các vùng bị kích thích như gãi, tiêm, mổ; kích thích lý hóa… thường xuất hiện đầu tiên ở vùng da đầu và vùng bị tỳ đè, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục.
  • Đôi khi bệnh vảy nến lan khắp cơ thể. Có khi còn gặp vảy nến ở nếp gấp hay dạng đỏ da lan tràn toàn thân và khó điều trị. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị bệnh trong 60% các trường hợp.
  • Vảy nến là bệnh không lây lan (trừ khi bệnh xâm nhập xương khớp hoặc nhiễm độc), không gây ảnh hưởng xấu cho sức khỏe, chỉ ảnh hưởng tâm lý, buồn phiền vì da… chẳng giống ai.

4. Điều trị bệnh vảy nến.

Hiện nay không có trị liệu nào dứt được bệnh vảy nến, mà chỉ làm dịu tạm thời. Thường thường, vảy nến được chữa theo ba phương thức:
  • Thuốc bôi ngoài da: Loại Corticosteroids như ultravate, tenovate, psorcon; Loại Donovex thuộc nhóm vitamin A analog; Loại Topical Retinoid như tazorac; Nhóm Coal Tar; Acid Salycylic 5%, dầu hắc ín, dithranol, calcipotriol, tazanotene.
  • Điều trị toàn thân với methotrexate, cyclosporine, saulfasalazine, acitretin.Các loại thuốc này phải được bác sĩ kê đơn và theo dõi vì chúng khá độc.
  • Trị liệu ánh sáng như Ultraviolet B (UBV), PUVA (Psoralen Plus Ultraviolet Ạ)

Bệnh lậu: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị

Bệnh lậu: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị

1. Bệnh lậu là gì ?

  • Bệnh lậu là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục, thông qua giao hợp không dùng biện pháp bảo vệ.
  • Đây là một bệnh nhiễm trùng rất phổ biến, do lậu cầu khuẩn ”Neisseria gonorrhoeae” gây nên, có thể biểu hiện triệu chứng hoặc không có triệu chứng trên lâm sàng.
  • Vi khuẩn bệnh lậu thường được tìm thấy ở âm đạo và đặc biệt hơn nữa là ở cổ tử cung ở nữ và trong đường niệu đạo ở nam.
bệnh lậu

2. Nguyên nhân gây bệnh lậu.

  • Bệnh lậu có nguyên nhân là do vi khuẩn gây ra.
  • Vi khuẩn gây bệnh lậu không thể sống bên ngoài cơ thể quá vài phút, cũng như không thể sống trên bề mặt da của bàn tay, cánh tay, hay chân. Vì thế bệnh lậu không lây qua những hình thức giao tiếp thông thường như bắt tay, ôm hôn …
  • Bệnh lậu lây truyền trong khi giao hợp không dùng biện pháp bảo vệ dưới mọi hình thức (âm đạo, hậu môn, miệng, …).
  • Ngoài ra bệnh lậu có thể lây truyền từ mẹ sang con khi thai sổ qua ống đẻ

3. Triệu chứng bệnh lậu.

Biểu hiện bệnh lậu ở nam và nữ khác nhau :
Đối với nam giới
  • Ða số nam giới bị bệnh lậu thường có triệu chứng đau ở đầu dương vật, ra mủ niệu đạo kèm theo đái buốt, vì vậy họ thường đi khám sớm, nhưng cũng không đủ sớm để tránh lây truyền cho bạn tình.
  • Viêm niệu đạo do lậu có thời gian ủ bệnh 3-5 ngày. Biểu hiện mủ chảy ra từ trong niệu đạo, màu vàng hoặc vàng xanh, số lượng thường nhiều và kèm theo đái buốt, đái dắt.
  • Nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến lậu mạn tính với các biến chứng thường gặp như viêm mào tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt … gây vô sinh.
Đối với nữ giới
  • Ngứa và rát quanh vùng âm hộ, tiểu tiện thấy đau
  • Có tới 50-80% không có triệu chứng hoặc triệu chứng không rõ ràng nên hay bị các biến chứng như viêm tiểu khung dẫn đến vô sinh và chửa ngoài tử cung.
  • Phụ nữ có thai bị lậu không được điều trị có thể bị sảy thai và gây lậu mắt trẻ sơ sinh.
  • Biểu hiện bệnh cấp tính với các triệu chứng đái buốt, mủ chảy ra từ trong niệu đạo, cổ tử cung, nâu vàng hoặc xanh, số lượng nhiều, mùi hôi.

4. Phòng ngừa và điều trị bệnh lậu.

Phòng ngừa
  • Không quan hệ tình duc với người bị bệnh lậu
  • Không dùng chung các dụng cu vệ sinh như chậu tắm, khăn…
  • Luôn dùng bao cao su và các biện pháp an toàn khi quan hệ tình dục
Điều trị
  • Đối với bệnh lậu không biến chứng có thể dùng các loại thuốc sau : -Ceftriaxone (rocephin) 250mg tiêm bắp liều duy nhất.
    -Spectinomycin (trobicin) 2g liều duy nhất.
    -Cefotaxime 1g tiêm bắp liều duy nhất.
  •  Đối với bệnh lậu có biến chứng (viêm mào tinh hoàn, viêm vòi trứng,…) việc điều trị phức tạp hơn, các kháng sinh được dùng với liều cao và kéo dài (2-4 tuần).
  • Nhiễm lậu cầu thường kèm theo nhiễm Chlamydia trachomatis do vậy cần kết hợp điều trị đồng thời cả bệnh lậu và Chlamydia trachomatis.
  • Điều quan trọng trong điều trị bệnh lậu nói riêng và các bệnh lây truyền qua đường tình dục nói chung là phải tiến hành điều trị cả bạn tình.

Mụn trứng cá :nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị


Mụn trứng cá :nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

1.Mụn trứng cá

  • Mụn trứng cá là một bệnh ngoài da, chủ yếu gặp ở tuổi thanh thiếu niên nhất là tuổi dậy thì. Thống kê cho thấy có tới 80% thanh thiếu niên Việt Nam mắc bệnh trứng cá.
  •  Trứng cá không phải là một bệnh nguy hiểm và cũng không thuộc loại bệnh lây cho người khác. Tuy vậy trên một cơ thể, mụn trứng cá có thể từ vị trí này lan sang vị trí khác (từ lưng, mặt có thể lan ra bụng, ngực, cánh tay, bả vai).

2.Nguyên nhân gây bệnh trứng cá

  • Có nhiều nguyên nhân dẫn đến mắc bệnh trứng cá. Thông thường người ta thấy mụn trứng cá chủ yếu do bị viêm nang lông, tuyến bã, do đó các chất nhờn tích tụ lại trong nang lông không được bài tiết ra ngoài kèm theo tăng tiết mồ hôi (bởi nang lông bị tắc nghẽn hoặc do bài tiết quá nhiều). Sự gia tăng bài tiết mồ hôi và chất bã nhờn làm tích tụ ngày một nhiều trong lỗ chân lông tạo thành các mụn.
  •   Hiện tượng tăng tiết mồ hôi và tăng tiết bã nhờn  diễn ra lúc tuổi dậy thì có liên quan mật thiết đến rối loạn nội tiết tố. Hiện tượng bã nhờn bị ứ đọng tạo thành nhân trứng cá. Một lý do khá quan trọng trong việc hình thành mụn trứng cá là có vai trò của vi khuẩn.
mụn trứng cá
  • Do một số loại vi khuẩn kết hợp với tăng tiết, ứ đọng bã nhờn càng gây nên hiện tượng viêm nhiễm, làm tăng thêm sự ứ đọng của bã nhờn do đó mụn trứng cá càng phát triển.
  •  Một số loại vi khuẩn hay gặp trong bệnh trứng cá là Propione – bacterium acnes (hay còn gọi là Corynebacterium acnes), Staphylococcus epidermidis (tụ cầu da), Pityrosporum… Các loại vi khuẩn này bình thường có thể có trên da một số người nhưng nếu gặp ở người có hiện tượng tăng tiết bã nhờn và làm tích tụ bã nhờn thì các vi khuẩn này rất dễ phát huy tác dụng (gây viêm nhiễm mạnh hơn), tức là phối hợp gây nên mụn trứng cá.
  •  Ngoài ra các hiện tượng như thức quá  khuya hoặc luôn luôn căng thẳng thần kinh hoặc gặp nhiều stress, hoặc ăn quá ngọt, quá nhiều chất cay, nóng cũng góp phần làm gia tăng bệnh mụn trứng cá.
  •  Bệnh mụn trứng cá có nhiều loại khác nhau, tùy theo tính chất của bệnh hoặc dựa vào đặc điểm của nốt mụn trứng cá mà người ta đặt tên cho chúng. Người ta gọi một số loại mụn trứng cá như mụn đầu đen, mụn đầu trắng, mụn mủ, mụn cụm, mụn nang, mụn cám, mụn trứng cá bọc… Đặc điểm của bệnh mụn trứng cá là bệnh hay tái phát, mỗi khi khỏi bệnh hoặc bệnh tạm lắng xuống thường để lại sẹo và làm cho da nơi bị mụn trứng cá thâm đen.
  •  Thêm vào đó nếu một người bị mụn trứng cá có ở nhiều nơi khác nhau trong cơ thể mà chỉ điều trị ở một nơi thì bệnh rất khó khỏi hẳn mà mụn trứng cá lại từ vùng khác sẽ lan tới vùng cũ làm bệnh tái phát. Chính vì mụn trứng cá làm cho da mặt thay đổi, sẹo sau khi bị mụn trứng cá và thay đổi màu da (đen, sạm) gây buồn phiền không nhỏ cho giới trẻ.
Sự tăng tiết tuyến bã và tuyến mồ hôi gây bệnh trứng cá.

3.Phân loại trứng cá

Trứng cá có nhiều loại nhưng phổ biến nhất vẫn là mấy loại sau.

  • Trứng cá thông thường: thường gặp ở thanh thiếu niên từ 12 – 13 tuổi bắt đầu là tăng tiết bã nhờn ở da, sau đó xuất hiện nhân trứng cá (đầu đen) các sẩn, các mụn mủ kế tiếp là bọc đầu trắng, thương tổn thường thấy ở mặt, ngực, phần trên của lưng, nếu không điều trị có thể xuất hiện các sẹo, thể trứng cá này có thể tự khỏi khi 18 tuổi.
  • Trứng cá bọc: thương tổn là các nang (Kyste) mầu sẫm dưới da, khi khỏi thường để lại sẹo, đây là thể nặng của trứng cá.
  • Mụn trứng cá cụm: Biểu hiện lâm sàng đa dạng với cùi mụn, sẩn, mụn mủ, cục, áp xe và sẹo. Vị trí ở lưng, mông, ngực; ít gặp hơn là bụng, vai, cổ, mặt, cánh tay và đùi. Sang thương thường lớn và rất đau, tạo nhiều đường dò chảy dịch hoặc mủ rất hôi. Lành thường để lại sẹo lõm và sẹo lồi. Bệnh thường khởi phát ở tuổi trưởng thành và nam gặp nhiều hơn nữ.
  • Mụn trứng cá ác tính: Đây là một dạng mụn trứng cá rất nặng. Bệnh thường xuất hiện đột ngột với sang thương viêm, kích thước lớn và rất đau ở ngực và lưng (ít gặp ở mặt). Sang thương nhanh chóng loét ra và lành để lại sẹo. Bệnh nhân thường sốt, kèm với tăng bạch cầu (10.000 – 30.000/mm3), đau khớp, đau cơ và các triệu chứng toàn thân khác. Bệnh đa số gặp ở thiếu niên.
Khi lành thương tổn sẽ để lại sẹo lõm hoặc lồi.
  • Trứng cá mạch lươn: là thể nặng nhất của trứng cá, tiến triển mãn tính đến nhiều năm sau tuổi dậy thì, trưởng thành, cần được điều trị đầy đủ.
  • Trứng cá tuổi trung niên: biểu hiện là các sẩn mủ ở má, cằm, nguyên nhân phức tạp (do hormon, do thuốc, ánh nắng …)

4.Điều trị mụn trứng cá

  • Mặc dù mụn trứng cá không phải là một bệnh đe dọa cuộc sống nhưng nó lại có ảnh hưởng rất lớn lên chất lượng cuộc sống khi mà bệnh đa phần tác động lên lứa tuổi thanh thiếu niên. Bệnh gây cho người bệnh cảm giác bối rối, bất an khi tiếp xúc với người khác và thậm chí có thể gây trầm cảm, xa lánh bạn bè, thụ động. Đặc biệt đối với mụn trứng cá nặng nếu như chúng ta không biết chăm sóc và điều trị đúng cách thì có thể để lại sẹo xấu, gây ảnh hưởng tâm sinh lý vĩnh viễn. Chúng ta cần nắm rõ các yếu tố sau nhằm góp phần đem lại hiệu quả tối ưu trong việc giải quyết các trường hợp này:
  • Điều trị mụn trứng cá là một quá trình liên tục. Tất cả những điều trị mụn trứng cá cần làm là phải ngăn những đợt mụn mới bộc phát. Những vết tích do mụn trứng cá gây ra cần phải được chữa lành và được cải thiện theo thời gian. Nếu mụn trứng cá không có cải thiện sau 2-3 tháng điều trị, cần phải thay đổi phác đồ khác theo ý kiến của bác sĩ Da liễu, tùy theo dạng mụn trứng cá.
  • Đôi khi, những phát ban do mụn trứng cá có thể gây ra do những nguyên nhân khác như dùng mỹ phẩm, một số dung dịch hay một số thuốc dùng bằng đường uống. Cần phải cung cấp những thông tin gần đây về việc dùng thuốc trên da hay bằng đường uống cho bác sĩ  Da liễu của bạn.

a.Điều trị tại chỗ

  • Thuốc thoa
  •  Khá nhiều những dung dịch hay kem bôi  gây ra mụn trứng cá nhẹ hoặc làm da trở nên khô hơn, do đó cần đọc chỉ dẫn sử dụng một cách cẩn thận.
  • Có nhiều loại kem, gel, hay dung dịch bôi có chứa chất giống vitamine A, benzoyl peroxide, hay kháng sinh nhằm hạn chế tắc nghẽn lỗ chân lông và sự phát triển của vi khuẩn. Những chế phẩm này có thể gây khô da và tróc vẩy. Bác sĩ Da liễu sẽ cho bạn những lời khuyên về cách sử dụng thuốc an toàn và làm thế nào để hạn chế tác dụng phụ.
  • Nếu bạn dự định sẽ mang thai, hay đang có thai hoặc cho con bú, nên thông báo cho bác sĩ trước khi bắt đầu dùng bất kỳ một thuốc nào (kể cả thuốc bôi).

b.Điều trị tiểu phẩu

  • Can thiệp phẫu thuật đối với mụn trứng cá có thể được thực hiện bởi bác sĩ da liễu, nhằm loại bỏ những mụn đầu đen hay đầu trắng.
  • Bào da vi phẫu có thể được dùng để loại bỏ những lớp trên cùng của da nhằm làm cải thiện những bất thường trên bề mặt da.
  • Lột da nhẹ bằng hóa chất như: acid salicylic hay glycolic acid sẽ giúp giảm tắc nghẽn lỗ chân lông, mở những mụn đầu đen và đầu trắng, cũng như kích thích sự tạo da mới.
  • Tiêm corticosteroids có thể được sử dụng trong điều trị những mụn trứng cá nốt cục; cách này có thể giúp chúng biến mất nhanh hơn.

Kháng sinh:

  • Những kháng sinh dùng bằng đường uống như: tetracycline, doxycycline, minocycline hay erythromycine thường được kê toa. Đối với mụn trứng cá nặng có thể dùng thêm sulfamethoxazol/trimethoprime hoặc Dapsone

Thuốc viên ngừa thai

  • Thuốc viên ngừa thai có thể cải thiện đáng kể tình trạng mụn trứng cá, và được dùng theo một cách riêng trong điều trị mụn trứng cá.
  • Điều quan trọng là cần phải biết những kháng sinh dùng bằng đường uống nào có thể làm giảm hiệu quả của thuốc ngừa thai uống. Vì thế cần theo dõi một cách thận trọng tác dụng phụ khi dùng thuốc này.

Những phương pháp trị liệu khác

  • Trong những trường hợp mụn trứng cá nặng không đáp ứng với điều trị, isotretinoin có thể được dùng. Những bệnh nhân dùng isotretinoin cần phải biết những tác dụng phụ của thuốc này. Theo dõi thường xuyên trong những lần tái khám là cần thiết. Khi đang dùng thuốc này không được có thai, vì thuốc có thể gây quái thai.
  • Phái nữ cũng có thể dùng hóc môn sinh dục nam hoặc những thuốc làm giảm hóc môn sinh dục nam nhằm giúp cải thiện tình trạng mụn.
  • Liệu pháp ánh sáng quang học với bước sóng có ánh sáng xanh có thể giúp ích trong điều trị mụn trứng cá.
  • Bác sĩ da liễu của bạn sẽ đánh giá tình trạng mụn trứng cá của bạn và khuyến cáo những công thức điều trị thích hợp; tùy vào tuổi, giới, dạng mụn trứng cá mà bạn mắc phải.

5.Điều trị sẹo của mụn trứng cá:

  • Bác sĩ Da liễu có thể điều trị các dạng sẹo của mụn trứng cá theo nhiều cách khác nhau. Tái tạo bề mặt da bằng laser, bào da, hóa chất hay đốt điện có thể làm phẳng sẹo lõm.
  • Sự tăng sinh mô mềm cùng với các sợi collagen hay tổ chức mô mỡ có thể gây ra sẹo. Đối với sẹo lõm có thể sửa chữa sẹo bằng dao vi phẫu và kỹ thuật ghép da. Việc kết hợp những điều trị phẫu thuật da này có thể cho kết quả khác nhau đáng kể.
điều trị mụn trứng cá

6.Chăm sóc da đúng cách:

  • Vấn đề không phải chỉ bác sĩ da liễu của bạn đã dùng thuốc gì để điều trị mụn trứng cá, mà là việc bạn tiếp tục chăm sóc da trong và sau điều trị có đúng cách không.
  •  Mụn trứng cá không chữa khỏi hẳn, nhưng có thể kiểm soát được; điều trị đúng cách sẽ giúp bạn cảm thấy tự tin hơn và có thể ngăn ngừa được tình trạng sẹo mụn.

1. Chăm sóc da đúng cách khi bị mụn trứng cá nặng:

  •  Bỏ thói quen sờ tay lên mặt, nặn, hút, hoặc lể mụn vì sẽ gây đỏ và tạo sẹo da.
  •  Hạn chế các yếu tố gây bít tắc lổ chân lông như dùng mỹ phẩm, đội nón chặt, để tóc che phủ mặt, đổ mồ hôi nhiều
  •  Chọn lựa các sản phẩm tẩy rửa, dưỡng da phù hợp: các sản phẩm rửa êm dịu da, không chứa cát nhám; các sản phẩm dưỡng có ghi chú “non-acnegenic” (không tạo mụn) hoặc “non-conmedogenic” (không tạo cồi).
  •  Nên rửa mặt 2 – 3 lần mỗi ngày. Chỉ rửa bằng nước sạch khi da khô, đỏ, ngứa do tác dụng của thuốc đang điều trị bệnh. Có thể dùng thêm sản phẩm rửa thích hợp 1 lần vào buổi tối khi da nhờn. Khi rửa không nên dùng bông hoặc khăn chà xát vì sẽ làm trầy xướt da mà chỉ nên rửa nhẹ nhàng bằng tay, sau đó thấm khô nước bằng gạc sạch.

2. Điều tiết chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý:

  •  Hạn chế ăn ngọt, chất béo.
  • Ngủ đều độ, tránh thức khuya.
  •  Tạo đời sống tinh thần lành mạnh, giảm thiểu stress và mất ngủ.
  • Bảo vệ da chống nắng: hạn chế đi nắng; đeo khẩu trang, đội nón rộng vành bằng vải màu sậm; bôi kem chống nắng.
  • Nên kiên trì thăm khám nhiều lần và liên tục bởi bác sỹ chuyên khoa da liễu.
  • Không nên dùng thuốc theo lời khuyên của bạn bè, người quen, hoặc tự mua thuốc dùng bởi vì việc điều trị rất khác nhau giữa người này và người khác, nó phụ thuộc tuổi, giới tính, các yếu tố nguy cơ, đặc điểm loại da, loại mụn…
  • Có thể phối hợp phương pháp chính gồm thuốc uống, thuốc thoa với các phương pháp hỗ trợ như chiếu ánh sáng xanh, chiếu tia laser, lột da

Sốt xuất huyết: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị


Sốt xuất huyết: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị

1. Sốt xuất huyết là gì ?

  • Sốt xuất huyết là bệnh nhiễm trùng cấp do virus Dengue gây nên, vật trung gian truyền bệnh là muỗi Aedes (muỗi vằn), đây là loại muỗi sống ở những nơi bùn lầy nước đọng chung quanh nhà, hoặc các nơi ẩm thấp tối tăm trong nhà.
  • Sốt xuất huyết thường xảy ra ở trẻ em tuổi từ 2-9 tuổi, càng lớn càng ít bị. Ðặc biệt trẻ càng bụ bẩm khi mắc bệnh dễ có khuynh hướng diễn tiến nặng.
sốt xuất huyết

2. Nguyên nhân gây sốt xuất huyết.

  • Do bị muỗi Aedes đốt và truyền virus.
  • Khi muỗi cái Aedes hút máu bệnh nhân nhiễm virus sốt xuất huyết, virus này sẽ ủ bệnh trong cơ thể muỗi khoảng 8 đến 11 ngày. Trong khoảng thời gian sống còn lại sau đó, muỗi có nguy cơ truyền bệnh cho người.
  • Khi virus sốt xuất huyết vào cơ thể người, chúng tuần hoàn trong máu từ 2 đến 7 ngày. Trong khoảng thời gian này nếu muỗi Aedes hút máu thì virus được truyền cho muỗi.
  • Người là ổ chứa virus chính,  ngoài ra người ta mới phát hiện ở Malaixia có loài khỉ sống ở các khu rừng nhiệt đới cũng mang virus Dengue
muỗi vằn

3. Triệu chứng sốt xuất huyết.

Thể bệnh nhẹ: ít khi dẫn đến tử vong.
  • Sốt cao đột ngột 39 – 40 độ C, kéo dài 2 – 7 ngày, khó hạ sốt.
  • Đau đầu dữ dội ở vùng trán, sau nhãn cầu.
  • Có thể có nổi mẩn, phát ban.
Thể bệnh nặng: chủ yếu bị ở trẻ em với tỷ lệ tử vong khá cao (30 – 40%), bao gồm các dấu hiệu trên, kèm theo các triệu chứng :
  • Dấu hiệu xuất huyết: Chấm xuất huyết ngoài da, chảy máu cam, chảy máu chân răng, vết bầm tím chỗ tiêm, ói ra máu, đi cầu phân đen (do bị xuất huyết nội tạng).
  • Đau bụng, buồn nôn, chân tay lạnh, người vật vã, hốt hoảng (hội chứng choáng do xuất huyết nội tạng gây mất máu, tụt huyết áp), nếu không được cấp cứu và điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong.

4. Phòng ngừa và điều trị sốt xuất huyết.

Phòng ngừa
  • Phát quang bụi rậm, dọn vệ sinh sạch sẽ loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, diệt bọ gậy (lăng quăng).
  • Phòng chống muỗi đốt : mặc áo dài tay, dùng bình xịt muỗi, ngủ trong mùng, …
  • Khi xảy ra dịch sốt xuất huyết cần tăng cường các biện pháp chống dịch, làm giảm nhanh mật độ muỗi trong cộng đồng bằng cách phun hóa chất diệt muỗi vào không gian.
Điều trị
  • Khi phát hiện bệnh sốt xuất huyết thì cần phải đưa người bệnh đến bệnh viện để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
  • Lau mát  để hạ sốt, truyền dịch hoặc dùng các loại thuốc như paracetamol,

Viêm nang lông: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị

Viêm nang lông: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị

1. Viêm nang lông là gì ?

  • Viêm nang lông hay còn gọi là viêm chân lông, là hiện tượng viêm nhiễm khu trú ngay trong cổ nang lông.
  • Đây là bệnh ngoài da thường gặp, đặc biệt ở nam giới và những người bôi corticoid kéo dài.
viêm nang lông

2. Nguyên nhân gây bệnh viêm nang lông.

  • Do tụ cầu vàng hoặc do tiếp xúc với hoá chất như dầu mỡ gây bít tắc cổ nang lông.
  • Bị nhiễm trùng ,vệ sinh kém hoặc do tăng chất nhờn hoặc mặc quần áo bó sát.
  • Lớp sừng trên da quá dày, lông chân quá mỏng và yếu, cạo, nhổ không đúng cách khiến vùng da đó bị tổn thương, da thiếu nước, bài tiết kém, dị ứng mỹ phẩm, mặc quần áo quá chật.v.v… cũng là nguyên nhân dẫn đến viêm nang lông.
  • Lông cuộn tròn trong nang lông là môi trường lý tưởng cho vi khuẩn phát triển khiến lỗ chân lông mưng mủ, gây ngứa ngáy khó chịu, tạo thành những nốt đỏ sần trên da.

3. Triệu chứng của viêm nang lông.

  • Viêm chân lông có thể dễ dàng nhận biết bằng hiện tượng lông mọc ngược, sợi lông không vươn ra khỏi nang lông mà cuộn tròn và phát triển bên trong da.
  • Trên vùng da, đặc biệt là da đầu, mặt, lưng, đùi, cánh tay…xuất hiện nhiều lớp sần nhỏ, có màu đỏ và gây ngứa ở vùng nang lông.
  • Tổn thương cơ bản là mụn mủ hình chóp, kích thước bằng đầu đinh ghim, ở giữa có một chấm vàng, xung quanh là một quầng đỏ. Các mụn mủ mọc thành từng đợt, sau 7-10 ngày khỏi không để lại sẹo. Đôi khi bệnh diễn biến dai dẳng trở thành mãn tính.

4. Cách điều trị viêm nang lông.

  • Viêm nang lông là bệnh dễ điều trị và sẽ khỏi nhanh nếu dùng thuốc thích hợp.
  •  Tăng cường vệ sinh thân thể, giữ cho da khô về mùa hè, trong chế độ ăn giảm chất bột, đường, tăng cường vitamin nhóm B.
  • Viêm nang lông nông: chấm tổn thương bằng dung dịch sát khuẩn cồn iod 2-3%
  • Viêm nang lông sâu: dùng các dung dịch sát khuẩn để tránh thương tổn lan rộng phối hợp với kháng sinh đường uống.
  • Viêm chân lông tuy không phải là một bệnh lý nguy hiểm, nhưng nếu không được vệ sinh và điều trị đúng cách thì sẽ có những biến chứng nguy hiểm. Do đó, để an toàn trong điều trị, khi bi viêm nang lông nên sớm đến gặp bác sĩ để được xử trí mụn kịp thời, chớ nên tự nặn bóp và bôi thuốc sẽ rất nguy hiểm

Sốt siêu vi: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị

Sốt siêu vi: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị

1. Sốt siêu vi là gì ?

  • Sốt siêu vi là thuật ngữ chỉ chung những trường hợp sốt do nhiễm các loại siêu vi trùng (virut) khác nhau.
  • Phần lớn sốt siêu vi không nguy hiểm và có thể tự hết, tuy nhiên cũng có một số bệnh nhanh chóng đưa đến tử vong đặc biệt là đố với trẻ em.
sốt siêu vi

2. Triệu chứng sốt siêu vi.

Sốt cao
  • Đây là biểu hiện thường gặp ở những trường hợp sốt siêu vi, thường từ 38-39 độ C, thậm chí lên đến 40-41 độ C.
Đau đầu
  • Đây cũng là biểu hiện thường gặp của sốt siêu vi, bệnh nhân thường có dấu hiện quay cuồng, nhức đầu dữ hội, trong đầu có cảm giác chao đảo, nguyên nhân do sốt nên tuần hoàn máu mạnh và mạch máu căng ra.
  • Khi sờ vào hai huyệt thái dương của người bệnh đang đau đầu thì có thể cảm giác thái dương đập mạnh.
  • Người đau đầu có xu hướng nhắm nghiền mắt và nằm co lại, li bì đi vì choáng váng. Lúc này trông người bệnh khuôn mặt như phù nề, mắt sưng húp.
  • Đối với trẻ em, một số trường hợp trẻ có thể đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo…Bệnh nhân sốt siêu vi có thể chảy mũ tai hoặc tai có nhầy và ngứa hơn lúc bình thường.
Viêm đường hô hấp
  • Kèm theo sốt và đau đầu là các biểu hiện viêm đường hô hấp như viêm họng (họng bị sưng tấy, đỏ), rát họng, ho, chảy nước mũi, hắt hơi, sổ mũi.…
Viêm kết mạc mắt
  • Kết mạc mắt có thể đỏ, có dử mắt, chảy nước mắt, mắt người bệnh lờ đờ.
Nôn
  • Có thể trẻ nôn nhiều lần nhưng thường xuất hiện sau khi ăn, người lớn cũng có thể nôn mửa, chủ yếu là do viêm họng, kích thích chất nhầy.
Phát ban
  • Thường xuất hiện 2-3 ngày sau khi sốt siêu vi, khi xuất hiện ban thì sẽ đỡ sốt vì bệnh đã qua thời kỳ ủ bệnh và phát bệnh.
Đau nhức mình mẩy
  • Thường xảy ra ở trẻ em ở trẻ lớn thì đau cơ bắp, trẻ thường kêu đau khắp mình, trẻ nhỏ có thể quấy khóc. Người lớn cũng có thể có triệu chứng này.
Rối loạn tiêu hóa
  • Thường xuất hiện sớm nếu nguyên nhân gây sốt siêu vi do virut đường tiêu hóa, cũng có thể xuất hiện muộn hơn vài ngày sau khi sốt với đặc điểm là đại tiện lỏng (tiêu chảy), không có máu, chất nhầy.
Viêm hạch
  • Đặc biệt là các hạch vùng đầu, mặt, cổ thường sưng to, đau có thể nhìn hoặc sờ thấy.

3. Điều trị sốt siêu vi

Các bệnh do sốt siêu vi gây ra hầu hết chưa có thuốc đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng. Do đó, các biện pháp thường áp dụng là:
  • Hạ sốt : Thường dùng paracetamol liều 10 mg/kg, 6 giờ/lần.
  • Chườm mát: Lau mình trẻ bằng khăn mát, lau khô mồ hôi, để trẻ nằm nơi thoáng mát, mặc quần áo mỏng.
  • Chống co giật: Nếu trẻ sốt cao trên 38,5 độ C thì nên dùng thuốc hạ sốt kèm theo thuốc chống co giật theo chỉ định của bác sĩ, đặc biệt là những trẻ có tiền sử co giật khi sốt cao.
  • Bù nước và điện giải: Khi sốt cao có thể gây ra tình trạng mất nước, rốt loạn cân bằng điện giải trong cơ thể, nên dùng các thuốc có tác dụng bù lượng nước mất qua da và điện giải do sốt như oresol, cháo muối nấu loãng.
  • Chống bội nhiễm: Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, nhỏ mắt, mũi bằng natriclorid 0,9%, tránh bội nhiễm vi khuẩn đường hô hấp.
  • Dinh dưỡng: Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, giàu chất dinh dưỡng.
  • Vệ sinh: Vệ sinh cơ thể cho trẻ sạch sẽ, tắm bằng nước ấm trong phòng kín.
  • Phải đưa trẻ đến khám ngay tại trung tâm y tế khi có các dấu hiệu sốt siêu vi : Trẻ sốt cao trên 38,5 độ C, đặc biệt là trên 39 độ C mà dùng thuốc hạ sốt không đáp ứng, lơ mơ, li bì, ngủ nhiều, xuất hiện co giật, đau đầu liên tục và tăng dần; buồn nôn, nôn khan nhiều lần, sốt kéo dài trên 5 ngày.
  • Sốt siêu vi dễ gây thành dịch nên khi trẻ bị nhiễm bệnh, cần cách ly và giữ ấm. Khi trẻ bị ốm, không nên cho đến trường.